Bệnh trĩ là bệnh có tỷ lệ người mắc bệnh khá cao, nhất là những người
lớn tuổi. Ở nước ngoài có nơi hơn 50% số người trên 50 tuổi mắc bệnh này.
Vài chục năm trở lại
đây nhờ những công trình nghiên cứu về sự phân bố mạch máu của vùng hậu môn -
trực tràng, người ta đã hiểu rõ bản chất của bệnh trĩ. Những hiểu biết này là nền
tảng của những nguyên tắc trong điều trị bệnh trĩ hiện nay.
Cơ chế sinh bệnh :
thuyết cơ học cho rằng đám rối tĩnh mạch nằm ở mặt phẳng sau của lớp dưới niêm
mạc, được giữ tại chỗ bởi các dải sợi có tính chất đàn hồi. Khi có hiện tượng
thoái hóa keo thì các dải này chùng nhẽo dần, hiện tượng thoái hoá bắt đầu từ độ
tuổi 20, bởi vậy bệnh trĩ không thấy ở trẻ em. Khi đã có sự chùng nhẽo của các
dải và áp lực trong xoang bụng tăng lên do táo bón kinh niên hay do rối loạn đại
tiện nằm trong lòng hậu môn hay lấp ló ở rìa ống hậu môn nhưng khi các dải treo
đứt hẳn thì chúng sa ra ngoài và gần như thường xuyên nằm ngoài ống hậu môn.
Thuyết huyết động
học cho rằng trong lớp dưới niêm mạc của phần thấp trực tràng của ống hậu môn
có rất nhiều khoang mạch. Vách các khoang mạch này có chỗ dầy, chỗ mỏng, tạo
nên tổ chức hang; ở đây có sự thông nối giữa động mạch và tĩnh mạch. Soullard
(1975) cho rằng hiện tượng chảy máu trong bệnh trĩ là do các rối loạn tuần hoàn
tại chỗ của chính các mạch máu thông nối này chứ không phải là do hiện tượng
dãn tĩnh mạch.
Ống hậu môn là nơi
có yêu cầu về chuyển hóa rất thấp mà lại có nhiều mạch máu tạo thành các búi
tĩnh mạch nằm ở lớp dưới niêm mạc trong ống hậu môn không đối xứng nhau mà nằm ở
vị trí 4h, 7h, 11h. Chúng có tính chất cương nên có chức năng của một cái nệm,
giữ vai trò khép kín hậu môn. Như vậy trĩ là một trạng thái bình thường, mạng mạch
máu trong lớp dưới niêm mạc của ống hậu môn được coi như là một ngã tư đường của
một mạng tuần hoàn rộng lớn. Ở trên là các tĩnh mạch đổ máu về hệ cửa; ở trước
là đám rới niệu dục; ở sau là các khoang tĩnh mạch ở chung quanh và trong lòng ống
tủy; ở dưới là các tĩnh mạch của các cơ thuộc chi dưới và tầng sinh môn.
Khả năng phồng xẹp
của các khoang mạch máu ở lớp dưới niêm mạc ống hậu môn thể hiện chức năng “vị
trí ngã tư đường” nói trên. Khi một mạch máu bị tắc thì mạng mạch máu ở lớp dưới
niêm mạc này đóng vai trò bù trừ, nhưng khi vượt quá giới hạn bù trừ thì xuất
hiện bệnh trĩ.
Nguyên nhân phát
sinh bệnh trĩ chưa được xác định chính xác, nhiều yếu tố được coi như là nguồn
gốc phát sinh bệnh trĩ.
Tư thế đứng : trĩ
gặp nhiều ở những người phải đứng lâu, phải ngồi nhiều như thư ký bàn giấy, người
bán hàng…Khi nghiên cứu về áp lực tĩnh mạch ở bệnh nhân trĩ, người ta thấy ở tư
thế nằm áp lực là 25cm, ở tư thế đứng tăng vọt lên đến 75cm nước.
Lị và táo bón : ở
những người mắc các chứng bệnh này mỗi khi đại tiện phải rặn nhiều, khi rặn áp
lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần.
Tăng áp lực trong
khoang bụng : ở những người làm nghề lao động chân tay nặng nhọc, những người mắc
bệnh viêm phế quản mạn tính, dãn phế quản, suy tim,… áp lực trong khoang bụng
tăng và bệnh trĩ dễ xuất hiện.
U hậu môn - trực
tràng và tiểu khung : ung thư trực tràng, u xơ tử cung, thai nhiều tháng và các
loại u khác ở vùng hậu môn - trực tràng, vùng tiểu khu làm cản trở máu hậu môn
- trực tràng trở về cũng là những nguyên nhân của trĩ. Đây là các nguyên nhân cụ
thể rõ rệt cho nên trĩ ở đây là “ trĩ triệu chứng”.
Triệu chứng bệnh
trĩ xuất hiện không rõ ràng, bệnh nhân cũng như thầy thuốc đều không khẳng định
được thời gian bắt đầu của bệnh vì trĩ là một tráng thái sinh lý bình thường,
chỉ khi nào xuất hiện các rối loạn không thể tự điều chỉnh được, ảnh hưởng tới
đời sống và sinh hoạt, lao động thì bệnh nhân mới đi khám bệnh.
Chảy máu : là triệu
chứng sớm nhất và cũng là triệu chứng thường gặp nhất. Chính vì triệu chứng này
mà bệnh được mang tên Haimorrhois (Hy Lạp), Hemorrhoid (Anh), Hémorrhoide
(Pháp). Hình thức chảy máu rất khác nhau và số lượng máu chảy cũng rất khác
nhau. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy
vệ sinh hoặc là nhìn vào phân thấy một vài tia máu nhỏ dính vào thổi phân rắn.
Về sau mỗi khi đại tiện phải rặn do táo bón thì máu chảy thành giọt hoặc thành
tia như cắt tiết gà. Muộn nữa cứ mỗi lần đại tiện, ngồi xổm đi lại nhiều là máu
lại chảy. Cũng có đôi lần bệnh nhân đại tiện ra máu từ búi trĩ chảy vào trong
lòng bóng trực tràng và đọng lại ở đó. Máu có màu đỏ tươi, không thực sự là máu
tĩnh mạch, người ta thấy ở vùng này có nhiều cầu nối tĩnh mạch. Bensaude nghiên
cứu nồng độ khí trong máu thấy hàm lượng oxy trong máu cao.
Đau : hiện tượng đau có thể không xảy
ra, chỉ thấy cồm cộm, vương vướng, nhưng cũng có thể đau thực sự trong các trường
hợp sau đây : tắc mạch : xuất hiện trong búi trĩ những cục máu đông nhỏ, khi bị
tắc mạch bệnh nhân không dám ngồi ngay ngắn trên ghế, khi ngồi chỉ đặt một mông
trên ghế. Khi trĩ sa ra ngoài và phù nề, búi trĩ có thể sưng khá to và mắc nghẹt
không thể đẩy lên được, nứt hậu môn đi kèm. Triệu chứng chính của nứt hậu môn
là rất đau nhất là khi đại tiện. Đau làm cho nhiều bệnh nhân không dám ăn vì sợ
ăn nhiều sẽ đại tiện nhiều. Ổ apxe đi kèm khu trú ngay dưới lớp niêm mạc hay ở
hố ngồi - hậu môn.
Sa trĩ : trĩ nội
lúc đầu khu trú hoàn toàn bên trong hậu môn - trực tràng, về sau khi to lên thì
sa xuống nằm ngoài hậu môn. Tuỳ theo độ lớn của búi trĩ tình trạng co thắt hậu
môn và trương lực của dây chằng Parks mà búi trĩ sa nhiều hay ít, sa thường
xuyên hay thỉnh thoảng. Sa trĩ ảnh hưởng nhiều tới sinh hoạt và khả năng lao động
của người bệnh, nếu trĩ sa ít chỉ xuất hiện khi đại tiện bón bệnh nhân không đến
nôi khó chịu. Nhưng khi sa nhiều và thường xuyên thì ảnh hưởng nhiều đến sinh
hoạt và lao động, sau mỗi lần đại tiện bệnh nhân mất nhiều thời gian, có khi
hàng giờ để chờ cho búi trĩ co lên. Bệnh nhân không thể đi lại nhiều, hoạt động
thể thao, làm việc nặng, nhiều khi đau do phù nề và lở loét vì viêm khuẩn ở búi
trĩ sa. Phần lớn bệnh nhân tới bệnh viện vì sa trĩ.
Thăm khám : bệnh
nhân nằm ngửa trên bàn khám, hai chân co và dạng tối đa. Thầy thuốc đứng đối diện
vùng hậu môn và quan sát trực tiếp. Vùng hậu môn trực tràng có 2 đám rối tĩnh mạch
: đám rối tĩnh mạch trĩ trên nằm trên và đám rối tĩnh mạch trĩ dưới nằm dưới
vùng lược. Đám rối tĩnh mạch trĩ trên tạo nên trĩ nội nằm trong lòng hậu môn -
trực tràng, được phủ bởi niêm mạc nhưng khi quá to thì sa xuống nằm ngoài ống hậu
môn. Đám rối tĩnh mạch trĩ tạo nên trĩ ngoại, luôn luôn nằm ngoài ống hậu môn
và được da phủ.
Trĩ ngoại có những
chỗ phồng lên ngay sát rìa hậu môn làm cho da ở những chỗ này mất nếp trở nên
căng bóng. Thường có 3 chỗ phồng : 2 ở bên phải và 1 ở bên trái, ấn vào những
chỗ phồng này thấy mềm, đôi khi cảm giác được những hạt cứng, đó là những cục
máu đông do hiện tượng tắc mạch gây nên.
Trĩ nội nhìn bề
ngoài không thấy gì khác thường, nhưng hướng dẫn bệnh nhân rặn mạnh các búi trĩ
sẽ có thể sa ra ngoài ống hậu môn. Trong nhiều trường hợp có 3 búi cũng ở vị
trí như các búi trĩ ngoại : búi phải trước, búi phải sau, búi trái. Các búi này
có thể bằng nhau nhưng thường to nhỏ khác nhau, phủ lên các búi trĩ nội không
phải là da mà là niêm mạc. Niêm mạc có màu hồng hơi tím, có thể nhìn thấy những
điểm đen, sờ nắn thấy hơi cứng đó là những cục máu đông. Nếu búi trĩ sa ra
ngoài thường xuyên thì trên niêm mạc có thể có những lỗ lở loét do chùi, do cọ
sát. Khi bệnh nhân đến sớm thì ba búi trĩ còn phân cách nhau rõ rệt, khi bệnh
nhân đến muộn ở giữa 3 búi dính có vài búi phụ nhỏ hơn. Cũng có thể tất cả các
búi chính và phụ đó đã liên kết với nhau tạo thành trĩ vòng.
Trường hợp có cả
trĩ nội và trĩ ngoại thì lúc đầu trĩ nội và trĩ ngoại phân cách nhau bởi vùng
lược vì da nhẵn vùng này dính vào cơ thắt trong, ngăn cách 2 đám rối tĩnh mạch
trĩ trên và trĩ dưới. Nhưng về sau dây chằng Parks bị nhẽo thì da vùng lược
không còn dính vào mặt trong cơ thắt nữa và trĩ nội thông với trĩ ngoại tạo
thành trĩ hỗn hợp. Phần lớn bệnh nhân khi đến bệnh viện là trĩ vòng và hỗn hợp.
Khi thăm khám phải xác định chính xác mức độ của trĩ để chọn phương pháp điều
trị thích hợp.
Trĩ nội độ 1 : các
tĩnh mạch dãn nhẹ, đội niêm mạc phồng lên lồi vào trong lòng trực tràng.
Trĩ nội độ 2 : các
tĩnh mạch trĩ đã dãn nhiều hơn tạo thành các búi rõ rệt, khi rặn nhiều thì búi
trĩ thập thò ở lỗ hậu môn, khi đại tiện xong, đứng dậy thì búi trĩ lại tụt vào
trong không nhìn thấy gì hết.
Trĩ nội độ 3 : cứ
mỗi lần đại tiện, đi lại nhiều, ngồi xổm làm việc nặng, búi trĩ lại sa ra
ngoài. Khi đã sa ra ngoài thì phải dùng tay ấn nhẹ hay phải nằm nghỉ một lúc
thì búi trĩ mới tụt vào trong.
Trĩ nội độ 4 : các
búi trĩ đã khá to, thường liên kết với nhau tạo thành trĩ vòng. Mỗi lần sa ra
ngoài phải dùng tay đẩy vào nhưng rồi lại tụt ra một cách dễ dàng, bệnh nhân có
cảm giác là búi trĩ thường xuyên nằm ngoài hậu môn.
Thăm trực tràng là
động tác bắt buộc đối với bệnh nhân trĩ. Xác định mức độ thương tổn của búi
trĩ. Khi ngón tay mang găng đã được bôi trơn nằm trong lòng hậu môn - trực
tràng thì cảm giác được những chỗ phồng mềm, ấn vào thì xẹp đi một cách dễ
dàng. Đôi khi có những cục nhỏ, cứng, ấn đau. Đó là những cục máu đông do hiện
tượng tắc mạch gây nên. Với các búi trĩ nhỏ nhận định bằng cảm giác của ngón
tay rất khó, lúc đó ngón tay miết nhẹ theo 2 chiều kim đồng hồ sẽ biết dễ hơn,
nhưng phải là những ngón tay của thầy thuốc kinh nghiệm mới khẳng định được.
Xác định tình trạng co vòng hậu môn, trong nhiều trường hợp trĩ có kèm theo
viêm co thắt cơ vòng hậu môn, lúc này thấy vòng cơ thít chặt ngón tay và khi
thăm trực tràng bệnh nhân rất đau. Xác định các thương tổn đi kèm với bệnh trĩ
như apxe, rò, nứt hậu môn. Phát hiện các thương tổn nguyên nhân mà trĩ chỉ là
triệu chứng như ung thư ống hậu môn hay ung thư ở đoạn thấp bóng trực tràng.
Soi hậu môn là
phương pháp có giá trị nhất trong chẩn đoán trĩ nội khi chưa sa ra ngoài. Qua ống
soi nhìn thấy bên trên đường lược ở các vị trí 4h, 7h, 11h những chỗ phồng lên
của niêm mạc. Niêm mạc ở những chỗ phồng này có màu hơi tím do có nhiều tĩnh mạch
nằm dưới. Soi hậu môn còn cho phép phát hiện thương tổn nứt hậu môn. Nứt hậu
môn đặc trưng là do thương tổn mất niêm mạc của ống hậu môn. Thương tổn thường ở
phía sau, ở nữa ngoài của ống hậu môn, ở chính giữa hay hơi lệch sang phải,
sang trái một ít. Chỗ mất niêm mạc có hình cái vợt với đầu phình hướng ra phía
ngoài và cán vợt thì quay vào trong. Trên đầu chỗ phình ở phía ngoài nhiều khi
thấy một mẫu da thừa mà thường được gọi lầm là trĩ. Mẫu da thừa này là một u hạt
viêm mạn tính và xơ hoá. Đó là triệu chứng tốt cho chẩn đoán vì chỗ mất niêm mạc
thường nằm sâu nên hơi bị che lấp. Thương tổn nứt hậu môn lúc đầu là một loét
nông có bờ dẹt, đáy màu hồng. Về sau khi bệnh đã tiến triển lâu ngày thì bờ nổi
rõ, đáy ổ loét sâu, để lộ các thớ của cơ vòng trong chạy ngang qua.
Soi trực tràng - đại
tràng không phải là để phát hiện thương tổn của trĩ mà chính là để phát hiện
các thương tổn của bóng trực tràng và của đại tràng chậu hông đi kèm. Qua ống
soi có thể nhìn thấy 1 polip có cuống hay không có cuống, ung thư bóng trực
tràng, ung thư đại tràng chậu hông, viêm loét trực tràng - đại tràng, bệnh
polip trực tràng - đại tràng. Những thương tổn này có cùng chung 1 triệu chứng
với bệnh trĩ là chảy máu. Như vậy đối với bệnh nhân đại tiện ra máu được chẩn
đoán là trĩ chỉ sau khi đã quan sát kỹ vùng hậu môn, thăm trực tràng bằng tay,
soi hậu môn, soi trực tràng - đại tràng.
Thiếu máu có thể gặp
vì chảy máu là triệu chứng thường gặp nhất. Tùy theo mức độ chảy máu, thời gian
chảy máu, chế độ ăn uống mà dẫn đến tình trạng thiếu máu. Thường thì không có thiếu
máu nhưng cũng không ít trường hợp thiếu máu nặng : hồng cầu dưới
1.000.000/mm3, hematocrit dưới10%.
Ngoài ra cần thăm
khám toàn diện để phát hiện hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa vì ở vùng hậu
môn - trực tràng có sự tiếp nối giữa 2 hệ tĩnh mạch cửa và chủ. Chú ý tới các bệnh
mạn tính đặc biệt là các chứng bệnh thường xuyên làm tăng áp lực trong xoang bụng.
Chẩn đoán trĩ
không khó, nhưng trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp mắc sai lầm. Một ung
thư trực tràng được chẩn đoán là trĩ, bệnh trĩ được chẩn đoán là sa trực tràng…
Ngoài ra khi đã chẩn đoán xác định những thương tổn khác, trĩ có thể là hậu quả
của một ung thư trực tràng và một ung thự trực tràng có thể xuất hiện trên một
bệnh nhân đã bị trĩ nhiều năm. Có khá nhiều bệnh ở vùng hậu môn trực tràng có
triệu chứng đại tiện ra máu cần phân biệt với các bệnh đó.
Ung thư trực tràng
- đại tràng có thể có chảy máu, bệnh nhân đại tiện ra rất nhiều máu, có khi đại
tiện nhiều máu cục do đọng lâu trong lòng ruột. Trong ung thư trực tràng máu
thường lẫn với phân và chất nhầy. Máu không có màu đỏ tươi mà thường là màu đỏ
lờ lờ. Để khẳng định chẩn đoán ung thự trực tràng - đại tràng chủ yếu là bằng
thăm khám trực tràng và soi hậu môn, soi trực tràng - đại tràng. Khi soi sẽ thấy
trong lòng ruột một diện hẹp hay rộng có nhiều nụ sùi, nhiều khi thương tổn chiếm
toàn bộ chu vi lòng ruột, ống soi chạm vào thương tổn này dễ gây chảy máu.
Viêm loét trực
tràng - đại tràng ít gặp ở Việt Nam, triệu chứng của bệnh này là chảy máu khá
nhiều, xác định bằng phương pháp soi trực tràng - đại tràng.
Polip đơn độc trực
tràng có triệu chứng duy nhất là chảy máu. Nếu polip ở thấp và có cuống dài thì
có thể tụt ra và nằm ngoài hậu môn. Thăm trực tràng hay soi trực tràng sẽ phát
hiện một polip to hay nhỏ, ở nông gần phía ngoài hay ở sâu tận bên trong, có cuống
hay không có cuống, polip thường thấy ở trẻ em nhỏ, ở loại tuổi này thì lại rất
ít có trĩ.
Bệnh polip trực
tràng - đại tràng có triệu chứng là đại tiện thường xuyên ra máu nhiều, tình trạng
thiếu máu rất nặng, bệnh có tính chất di truyền và thường ở trẻ em. Chẩn đoán
xác định bằng soi hậu môn, soi trực tràng - đại tràng và chụp khung đại tràng với
phương pháp đối quang kép. Khi búi trĩ sa cần phân biệt với sa trực tràng và sa
polip trực tràng.
Sa trực tràng :
khi búi trĩ còn phân cách nhau thì phân biệt dễ. Khi các búi trĩ đã liên kết với
nhau tạo thành trĩ vòng thì có thể bị lầm lẫn. Sa trực tràng có thể là sa niêm
mạc hoặc sa toàn bộ. Sa niêm mạc khi chỉ có niêm mạc sa ra ngoài, sa toàn bộ là
khi toàn bộ các lớp của trực tràng sa ra ngoài. Trong cả 2 loại, cứ mỗi khi bệnh
nhân rặn đại tiện thì lại xuất hiện ở hậu môn một khối có hình nón cụt mà đáy
là lỗ hậu môn, chiều cao 1 – 3cm, dài 10 – 15cm. Niêm mạc phủ có màu hồng bóng
với các nếp niêm mạc vòng tròn đồng tâm, trên mặt niêm mạc có dính một ít chất
nhầy. Khi đại tiện xong bệnh nhân thường lấy tay đẩy nhẹ để khối này tụt vào
trong. như vậy khối này rất khác với trĩ vòng vì trĩ vòng không bao giờ quá
dài, không đều mà chỗ to, chỗ nhỏ, niêm mạc phủ không có màu hồng mà có màu hơi
tím.
Polip trực tràng nằm
trong lòng trực tràng nhưng khi cuống dài thì sa hoàn toàn ra ngoài ống hậu
môn. Phủ lên polip cũng là niêm mạc nhưng khi nắn vào thì thấy cứng chứ không
có cảm giác sờ vào các tĩnh mạch như trong búi trĩ. Cuống của polip sa ra ngoài
thường nhỏ còn búi trĩ không có cuống thực sự. Biến chứng của trĩ là tắc mạch
nghẹt, nhiễm khuẩn.
Tắc mạch trĩ ngoại
có thể do vỡ các tĩnh mạch, tạo nên một bọc máu hoặc là do hiện tượng đông máu.
Rặn ỉa, khuẩn vác hoạt động thể thao, mang thai, hậu sản… làm tăng áp lực trong
xoang bụng gây sung huyết vùng hậu môn là những yếu tố thuận lợi của tắc mạch
trĩ. Một vài ngày hay một vài giờ sau khi xuất hiện, bọc máu đông được bao bọc
bởi một màng mỏng, dần dần dính chặt vào da phủ khó bóc tách. Khi thăm khám thấy
ở vùng rìa hậu môn có khối sưng mờ phớt xanh, kích thước to hay nhỏ hơn hạt đậu,
sờ vào thấy căng, bệnh nhân đau rát, nếu được rạch ngay lấy cục máu đông thì bệnh
nhân thấy dễ chịu ngay, nếu không được rạch thì một vài tuần sau cục máu sẽ thu
bé lại thành một cục nhỏ sờ nắn khá cứng, cũng có khi cục máu đông làm hoại tử
da phía trên gây rỉ máu.
Tắc mạch trĩ nội
ít hơn nhiều so với tắc mạch trĩ ngoại, bệnh nhân đau ở trong sâu, có cảm giác
gợn cộm như có một vật lạ nằm trong lòng ống hậu môn, ấn tay vào thành trực
tràng cảm giác được 1 cục cứng có ranh giới rõ rệt. Khi soi hậu môn thấy ở búi
trĩ có một chỗ phồng lên màu phớt xanh, rạch nhẹ vào khối đó một cục máu đông bật
ra.
Nghẹt là khi búi
trĩ hay vòng trĩ sa ra ngoài, mạch có thể bị tắc gây phù nề và do đó không thể
tự tụt trở lại vào trong lòng trực tràng được. Nghẹt có thể một phần, một nửa
hay toàn bộ chu vi hậu môn. Khi nhìn thấy ở mặt ngoài của trĩ sa nghẹt là da
màu xám, ở mặt trong là niêm mạc màu nâu đỏ, sưng mềm, rải rác có những nốt xám
đen là do hiện tượng hoại tử bắt đầu. Khi nắn thấy có những chỗ do phù nề, ấn
lõm, xen kẽ với những hạt cứng là những cục máu đông. Trĩ sa nghẹt đẩy lên rất
khó hay là hoàn toàn không đẩy lên được nhất là loại trĩ vòng, là do phù nề nhiều
hơn và do cơ vòng thắt chặt, trĩ sa nghẹt làm bệnh nhân rất đau đớn, trĩ sa nghẹt
hoặc là đỡ sưng nề dần và rồi có thể đẩy lên được hoặc là bị hoại tử, lở loét
và nhiễm khuẩn.
Nhiễm khuẩn của
trĩ là viêm khe, viêm nhú. Các khe, các nhú nằm trên đường lược, biểu hiện lâm
sàng của viêm khe, viêm nhú là cảm giác ngứa ngáy hay nóng rát, thăm trực tràng
làm bệnh nhân rất đau, thấy cơ vòng hậu môn thít chặt, dãn nở kém. Soi hậu môn
thấy các nhú bị phù nề sưng to, màu trắng, các khe nằm giữa các búi trĩ bị loét
nông, màu đỏ.
Điều trị : trĩ là
một trạng thái sinh lý bình thường, chỉ khi nào mất sự điều chỉnh mới trở thành
bệnh lý. Điều trị trĩ khi có những triệu chứng làm bệnh nhân khó chịu, đau đớn
hay chảy máu. Trĩ ngoại có biểu hiện lâm sàng thường là tắc mạch, mục đích của
điều trị là làm hết đau do hiện tượng phù nề và viêm nhiễm.
Nội khoa : ngâm hậu
môn vào nước ấm, bôi tại chỗ các thuốc chống viêm, chống phù nề, chống tắc mạch
như pomat có cortisone, héparine hyaluronidase, điều chỉnh các rối loạn tuần
hoàn.
Thủ thuật : rạch
trực tiếp vào chỗ có tắc mạch để cục máu đông bật ra, nạo sạch hốc huyết khối nằm
để bảo đảm lấy hết cục máu đông hay lấy trọn cả cục huyết khối lẫn túi đựng. Thủ
thuật sau tránh huyết khối tái phát và tránh các mẩu da thừa do tắc mạch gây
nên. Cả 2 loại thủ thuật này được thực hiện với gây tê tại chỗ bằng xylocain có
adrénaline.
Phẫu thuật : cắt bỏ
búi trĩ ngoại thực hiện giống như búi trĩ nội. Điều trị nội khoa đơn thuần dùng
cho các trường hợp trĩ ngoại phù nề, điều trị thủ thuật dùng cho trường hợp tắc
mạch đau. Điều trị phẫu thuật dùng cho các trường hợp đám rối tĩnh mạch đã dãn
nở lớn.
Trĩ nội được điều trị như sau :
Về sinh hoạt : hạn
chế các công việc nặng nhọc, tránh các động tác mạnh làm cho áp lực trong xoang
bụng tăng lên một cách đột ngột, tránh ngồi lâu, tránh đứng nhiều, không uống
bia, rượu. Có những bệnh nhân uống rượu không thấy ảnh hưởng gì, nhưng cũng có
bệnh nhân chỉ cần hớp rượu cũng làm khởi phát một đợt sa trĩ, không dùng các đồ
ăn dễ gây kích thích niêm mạc dạ dày - ruột như tiêu, ớt… Không ăn các loại đồ
ăn dễ gây tiêu chảy, nên ăn rau, đu đủ, chuối…các loại đồ ăn này làm cho phân mềm,
đỡ táo bón, để khi đi đại tiện không phải rặn mạnh. Tránh va chạm vào vùng hậu
môn, giấy vệ sinh phải mềm, có khi phải dùng loại bông thấm nước, dùng loại xà
phòng có tính axit nhẹ. Giữ sạch vùng hậu môn, vùng hậu môn bị dơ bẩn dễ gây
nên những kích thích. Mỗi ngày rửa vùng hậu môn một hai lần nhất là sau khi đại
tiện, không nên rửa quá nhiều lần vì dễ gây những va chạm, tổn thương tại chỗ,
với những búi trĩ sa lại càng nhẹ nhàng, tránh những trầy xước niêm mạc dễ dẫn
đến lở loét.
Thuốc toàn thân :
từ xưa người ta đã biết cách dùng rất nhiều các loại cây thuốc dưới dạng uống.
Tác dụng của các loại cây thuốc này thường là do có chứa đựng vitamin P
(flavonoides, rutosoides). Khi trĩ có phù nề hoặc tắc mạch thì dùng các loại
thuốc chống viêm. Với các bệnh nhân có bệnh loét dạ dày tá tràng phải hết sức cẩn
thận khi dùng các thuốc cortisone, axit tiaprofenic, phenylbutazone,
alfachymotrypsine uống hay tiêm bắp. Hyaluronidase, thiomucase tiêm bắp,
Chymoral và extranase uống.
Thuốc tại chỗ :
thuốc đạn đặt hậu môn dùng cho các thương tổn nằm trong lòng hậu môn trực
tràng. Pomat dùng cho các thương tổn nằm phía ngoài rìa hậu môn. Pomat được bôi
vào canun hay vào đầu ngón tay mang găng đặt nhẹ vào trong lòng ống hậu môn nơi
có thương tổn. Menthol và các dẫn xuất của cocaine có tác dụng đỡ cảm giác căng
tức và đỡ đau. Heparine có tác dụng chống tắc mạch và huyết khối.
Hydrocortisone có tác dụng tốt trong các trường hợp có viêm nhú, viêm khe và
nhiễm khuẩn ở búi trĩ sa nghẹt. Trimébutine làm giảm đau, giảm ngứa, bớt phù nề.
Các loại thuốc trên thị trường thường phối hợp hai hay nhiều thuốc trên.
Tiêm thuốc làm xơ
: Chlorhydrate quinine – urée 50% (kinuréa) đã được dùng từ rất lâu, nhược điểm
của thuốc này là làm bệnh nhân đau và gây chảy máu có khi lở loét tại nơi tiêm.
Dầu phenol (anusclérol) gồm có : phenol, menthol, butoforme, so với chlorhyrate
quinine – urée thì thuốc này có ít biến chứng hơn. Polidocanol (aetoxisclérol)
gồm có : polidocanol, éthanol thuốc này được bán nhiều ở thị trường, dễ sử dụng,
ít biến chứng có kết quả tốt. Bệnh nhân nằm theo tư thế gối - ngực, đặt ống soi
hậu môn dùng loại kim ngắn 1cm có đường kính 5/10 hay 8/10mm. Tiêm ở trên cao
vào chân búi trĩ, nơi tiếp giáp của ống hậu môn và bóng trực tràng. Tiêm một lần
vào 4 điểm theo chu vi của lòng ruột. Tránh tiêm ở phía trước nơi 12 giờ vì có
thể chạm vào tuyến tiền liệt, túi tinh hay thành sau âm đạo. Về chiều sâu, đầu
kim bắt buộc phải vào tới và chỉ được vào tới lớp niêm mạc. Không được tiêm quá
sâu vào tới lớp cơ. Nếu tiêm vào lớp niêm mạc nơi tiêm có thể bị loét và hoại tử.
Nếu tiêm vào lớp cơ khi bơm thuốc sẽ thấy rất nặng tay và bệnh nhân rất đau,
nhiều ngày sau chỗ tiêm cũng có thể bị hoại tử và lở loét.
Thường ít xảy ra
khi tai biến, nguyên nhân của tai biến là do các sai sót kỹ thuật : trong khi
tiêm đau và chảy máu. Những giờ sau đau tại nơi tiêm, có thể mót đại tiện, đôi
khi có các biểu hiện toàn thân như mệt xỉu, chóng mặt, toát mồ hôi, đau quặn bụng,
có khi sốt cao, nguyên nhân có thể là do nhiễm khuẩn huyết. Những ngày sau có
thể đau và chảy máu thường do loét hoại tử. Các tai biến này xảy ra khi dùng
chlorhydrate quinine – urée, ít khi xảy ra với dầu phenol. Một vài tuần sau khi
điều trị, thăm khám không thấy búi trĩ nhỏ lại, màu sắc vẫn như cũ, khi thăm
khám trực tràng cũng không thấy có gì khác trước. Nhưng về lâm sàng thì kết quả
rất rõ rệt, cảm giác tức vướng, khó chịu ở vùng hậu môn mất hẳn và hết chảy
máu.
Thắt trĩ : khi thắt
vào chân búi trĩ, phần búi trĩ ở dưới chỉ thắt do thiếu máu nuôi dưỡng, sẽ hoại
tử và rụng đi, quá trình hoại tử diễn ra từ từ vì vậy không làm chảy máu. Đặt
và đẩy dần ống soi vào trong lòng ống hậu môn trực tràng, vừa đẩy vừa lựa chiều
để thấy rõ từng búi trĩ. Khi đã nhận rõ búi trĩ thì kéo nó ra ngoài, lúc đó sẽ
nhận rõ cuống và gốc của nó. Thắt búi trĩ tại gốc bằng một sợi chỉ hay bằng một
sợi thun (Baron 1962). Chỗ thắt bao giờ cũng ở phía trên đường lược, nếu thắt ở
thấp vào vùng da nhẫn, vừa không lấy hết được búi trĩ vừa làm bệnh nhân đau.
Phương pháp thắt dễ thực hiện khi các búi trĩ còn phân cách nhau. Thực hiện khó
khăn khi chân các búi trĩ rộng nhất là trĩ đã sa thành vòng tròn, tai biến đau
gặp trong 10% bệnh nhân, đau chỉ trong vòng 12 – 24 giờ. Đau kéo dài thường là
do huyết khối tại nơi thắt hay do loét hoại tử lan rộng xuống tới vùng lược, chảy
máu nặng rất ít gặp. Những giờ sau khi thắt, bệnh nhân sốt cao mà không tìm thấy
lý do, sốt tự nhiên, không cần phải xử lý, khám lại trong ngày hôm sau thấy búi
trĩ nhỏ lại rất nhiều, ba bốn ngày sau thì búi trĩ hoại tử và rụng. Một công
trình tổng hợp ở nước ngoài đã thống kê trên 1074 bệnh nhân với 4122 nốt thắt,
theo dõi 10 năm cho kết quả như sau : đối với trĩ sa có kết quả hoàn toàn là :
60%, bớt 32%; đối với triệu chứng chảy máu khỏi 69%. Wrobleski theo dõi 3 năm
trên 362 bệnh nhân thấy tỷ lệ khỏi bệnh 69%.
Liệu pháp lạnh :
nhiệt độ rất thấp làm kết tinh nước ở khu vực ngoài và trong tế bào, sự kết
tinh nước làm cho mạch máu bị tắc nghẽn và gây hoại tử, làm lạnh bằng nitơ lỏng
hay protoxyt nitơ. Bệnh nhân nằm ở tư thế gối - ngực, đặt ống soi hậu môn, áp
sát que đã làm lạnh lên tất cả chiều cao của búi trĩ, sau 2 – 3 phút nhiệt độ lạnh
làm cho một vùng tái nhợt, đường kính 6 – 8mm. Dùng 2 que lạnh áp hai bên búi
trĩ kết quả đạt được sẽ chắc chắn hơn. Trong cùng một lần có thể đốt lạnh cả 3
búi trĩ. Chiều tối và ngày hôm sau nếu bệnh nhân đau cho thuốc giảm đau, chỗ đốt
lạnh có thể bị phù nề, rỉ nước kéo dài trong vài ngày, sau chừng một tuần búi
trĩ hoại tử. Sau 2 3 tuần thì vết loét hoại tử khỏi dần và chừng hai tuần sau
thì khỏi hẳn, kết quả chỉ vào khoảng 50%.
Liệu pháp quang học
: tia hồng ngoại làm cho búi trĩ đông lại, đặt tia hồng ngoại vào 3 – 4 chỗ
theo chu vi của ống hậu môn, thời gian đặt tại chỗ chỉ 1 – 2 giây sẽ được 1 diện
đông đường kính chừng 3mm. Ngày nay người ta dùng LASER YAG.
Đốt điện : dùng
dao điện 1 cực, 2 cực hay dòng điện trực tiếp. Dao điện áp sát vào gốc búi trĩ
và tăng dần điện thế lên đến 16mA, dưới tác dụng của nhiệt búi trĩ sẽ đông lại.
Nước sôi : thêm trực
tiếp nước đang được đun sôi vào búi trĩ sau khi được gây tê tại chỗ, phương
pháp này do bệnh viện Việt Đức, Hà Nội giới thiệu.
Phẫu thuật.
Phương pháp
Whitehead (Anh 1882) : cắt bỏ đi một đoạn của ống hậu môn bao gồm lớp niêm mạc
và lớp dưới niêm mạc, đoạn cắt bỏ này mang theo các búi trĩ. Kéo niêm mạc trực
tràng xuống khâu với da ở hậu môn, đường khâu là một vòng tròn. Ưu điểm của
phương pháp này là rất triệt để, nhược điểm là hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ,
hậu môn luôn luôn tiết dịch. Các tai biến này nặng hơn nhiều so với bệnh trĩ mà
lại rất khó chữa. Chính vì thế mà nhiều tác giả khuyên không nên sử dụng nữa,
nhưng vì là 1 phẫu thuật triệt để nên 1 số tác giả chủ trương vẫn sử dụng với
những cải biến cần thiết.
Phương pháp Toupet
(Pháp 1970) : cải biên của Toupet nhằm khắc phục những nhược điểm của phương
pháp Whitehead. Khắc phục nhược điểm hẹp hậu môn bằng cách hạ niêm mạc của ¼
sau vòng hậu môn - xuống tới bờ dưới cơ thắt trong. Khắc phục nhược điểm đại tiện
không tự chủ bằng cách không rạch đường dưới ở thấp nơi đường hậu môn – đáy chậu,
mà rạch ở cao nơi đường lược. Khắc phục nhược điểm sa niêm mạc bằng cách khâu ở
trong lòng ống hậu môn và khi khâu mũi kim lấy vào cơ thắt trong để làm lại dây
chằng Parks.
Phương pháp
Milligan – Morgan (Anh 1937) còn gọi là phương pháp của bệnh viện Saint Mark, cắt
các búi trĩ riêng biệt. Sau khi cắt để lại ở giữa các diện cắt các cầu da –
niêm để bệnh nhân còn giữ phản xạ mót đi ngoài. Trường hợp trĩ vòng vẫn giữ
nguyên cách cắt này nhưng những búi tĩnh mạch dãn nằm dưới các cầu da – niêm mạc
khi được lấy bỏ. Cắt các búi trĩ ở trên cao nơi gốc búi trĩ, vì cắt tại gốc nên
phẫu thuật có tính triệt để và ít bị tái phát. Phương pháp phẫu thuật này ngày
nay được sử dụng rộng rãi vì kết quả rất tốt.
Phương pháp Parks (Anh 1965) thực hiện
như với phương pháp Milligan – Morgan nhưng trước khi cắt trĩ thì rạch niêm mạc
Phương pháp
Ferguson (Mỹ 1971) sau khi rạch niêm mạc để cắt bỏ búi tĩnh mạch trĩ thì khâu
kín lại. Ưu điểm của phương pháp này là trong khi mổ ít chảy máu và sau khi mổ
sẹo liền nhanh. Nhược điểm là nếu trong khi mổ cầm máu không kỹ thì dễ gây tụ
máu và nếu khâu dúm thì sau mổ sẽ bị đau.
Phương pháp của bệnh
viện Việt Đức : từ năm 1966, bệnh viện Việt Đức, Hà Nội sử dụng phương pháp của
bệnh viện Saint Mark với 1 số cải tiến. Rạch 1 đường dài theo đường nan hoa, từ
da đáy chậu vào tới phía trên đường lược để nhận rõ cơ thắt và gốc búi trĩ. Đường
rạch được chia đôi để lấy đi phần da và niêm mạc thừa để tránh da thừa. Da và
niêm mạc sau khi cắt được để hở như vậy việc dẫn lưu sau mổ thuận lợi và sẹo
lành trong tư thế tự nhiên. Trong 15 năm bệnh viện Việt Đức có 379 bệnh nhân được
phẫu thuật theo phương pháp trên có kết quả rất tốt : không hẹp hậu môn, không
có tai biến đại tiện mất tự chủ, sau mổ không đau hay chỉ đau ít, nhiều bệnh
nhân có thể ra viện ngay buổi chiều ngày mổ, tái phát khoảng 3% với mức độ nhẹ..
Trong mọi trường hợp dù nặng, dù nhẹ trước hết phải chỉnh các rối loạn đại tiện
như táo bón, đại tiện khó khăn. Sử dụng phương pháp nào là căn cứ vào mức độ của
thương tổn.
Trĩ nội độ I :
tiêm thuốc làm xơ, dùng tia hồng ngoại, đốt điện. Chống chỉ định của tiêm thuốc
làm xơ khi có rối loạn đông máu hoặc nhiễm khuẩn.
Trĩ nội độ II : đốt
điện, đốt lạnh, thắt.Trĩ nội độ III : đốt điện, đốt lạnh, thắt hay phẫu thuật.
Trĩ nội độ IV : phẫu
thuật.
Trĩ sa nghẽn mạch
: đẩy lên sau khi ngâm hậu môn nước ấm, đắp gạc tẩm hyaluronidase, bôi pommade
có bạc keo hay corticoide và dùng thuốc hoặc là phong bế tại chỗ bằng hỗn hợp
adrénaline – hyaluronidase và rạch lấy huyết khối.
Tuyệt cốt: trị trĩ dò, với Túc tam lý (đều cứu) đề phòng trúng gió
Trĩ lòi dom: Bàng cường, Nhị bạch.
Tuyệt cốt: trị trĩ dò, với Túc tam lý (đều cứu) đề phòng trúng gió
Trĩ lòi dom: Bàng cường, Nhị bạch.
BỆNH TRĨ, TRĨ NGOẠI, TRỰC TRÀNG THOÁT XUẤT
I. TRIỆU CHỨNG VÀ NGUYÊN NHÂN
Nhân tri phần lớn là những u, bướu do mạch máu vùng xung quanh hậu
môn tổn thương sinh ra, nó tách rời ra phía ngoài cửa hậu môn; và trĩ bị lở
loét chính là những vết thương do vùng xung quanh hậu môn bị viêm nhiễm mưng mủ.
Nguyên nhân sinh ra triệu chứng này do phân quá cứng làm cho các mạch máu xung
quanh hậu môn bị nghẽn máu không lưu thông được, mạch máu bị rách, hậu môn bị
rách, chảy máu, đau đớn. Còn có trường hợp đi cầu, do dùng sức quá mạnh để thải
phân ra (rặn quá mạnh) trực tràng sát hậu môn bị lộn hẳn ra phía ngoài hậu môn,
tức là trực tràng thoát xuất.
II. TRỌNG TÂM TRỊ LIỆU
Bệnh nặng thì nhất thiết phải điều trị theo bác sĩ chuyên khoa. Tác
dụng chủ yếu của liệu pháp huyệt đạo là thúc đẩy máu huyết vùng xung quanh hậu
môn lưu thông tuần hoàn, điều chỉnh chức năng cơ quan tiêu hóa, để làm cho việc
thải phân được dễ dàng. Trước hết lấy các huyệt Bách hội trên đầu, Đại chùy ở cổ
làm xuất phát điểm tiến hành trị liệu, tiếp đến là các huyệt ở trên lưng và eo,
đặc biệt là thực hiện bấm huyệt một cách hết sức kỹ lưỡng đối với các huyệt gần
với vùng bị thương như Hội dương, Trường cường. Khi vùng eo và chân bị hàn lạnh
sẽ làm cho tình trạng của trĩ ở hậu môn trở thành ác tính, do đó phải tiến hành
ấn lên các huyệt Tam tiêu du, Thận du ở eo lưng, Tam âm giao, Thái khê ở chân để
khắc phục. Để điều chỉnh chức năng hệ tiêu hóa, tiến hành ấn huyệt Thiên khu,
Túc tam lý và massage vùng bụng sẽ có hiệu quả; ấn lên huyệt Khổng tối trên
cánh tay sẽ có hiệu quả chế ngự cơn đau.
III. CÁC HUYỆT ĐẠO QUAN TRỌNG LIÊN QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU
▼ BÁCH HỘI
- Tác dụng: Là huyệt đạo để trị liệu bệnh trí rất hiệu quả.
- Vị trí: Nằm giữa đỉnh đầu, ngay tại giao điểm của đường thẳng nối
hai tai và đường thẳng giữa hai lông mày ra sau gáy.
- Phương pháp trị liệu: Để người bệnh ngồi thẳng; người trị liệu đứng
phía sau, hai bàn tay ôm hai bên đầu, đầu hai ngón tay cái cùng ấn thẳng xuống
huyệt Bách hội của người bệnh, kết hợp với ấn huyệt Trường cưởng ở dưới mông có
hiệu quả đặc biệt trong trị liệu bệnh trĩ. Châm cứu lên huyệt Bách hội cũng rất
hiệu quả.
▼ ĐẠI CHÙY
- Tác dụng: Tiêu trừ việc sưng tấy viêm mù xung quanh hậu môn do bệnh
trĩ và kiết lỵ gây nên.
- Vị trí: Nằm giữa đốt sống cổ thấp nhất.
- Phương pháp trị liệu: Một tay người trị liệu giữ lưng người bệnh,
đầu ngón cái của tay kia day ấn hơi mạnh lên huyệt Đại chùy của người bệnh.
Kiên trì thực hiện liên tục liệu pháp này sẽ tiêu trừ được các vết sưng, mủ
vùng xung quanh hậu môn.
▼ THẬN DU
- Tác dụng: Làm thư giãn vùng eo lưng, nâng cao sự tuần hoàn cùa máu
huyết vùng hậu môn.
- Vị trí: Hai huyệt đối xứng qua và cách Đốc mạch chừng 2 đốt ngón
tay, ngang đầu mút xương sườn dưới cùng.
- Phương pháp trị liệu: Để người bệnh nằm sấp; người trị liệu quỳ
bên đùi, chồm về phía trước, hai bàn tay ôm hai bên hông, đầu hai ngón tay cái ấn
mạnh lên hai huyệt Thận du của người bệnh, lần lượt từ huyệt Tam tiêu du cho đến
Thận du, làm thư giãn toàn thân, thúc đẩy máu huyết xung quanh hậu môn lưu
thông tuân hoàn, tiêu trừ hàn lạnh, chế ngự các triệu chứng của bệnh trĩ.
▼ TÚC TAM LÝ
- Tác dụng: có tác dụng điều chỉnh cơ năng hệ tiêu hóa, giúp bài tiết
phân dễ dàng, khắc phục các nguy cơ gây bệnh hậu môn.
- Vị trí: Nằm ở mé ngoài xương cẳng chân, phía dưới đầu gối chừng 3
đốt ngón tay.
- Phương pháp trị liệu: Để người bệnh nằm ngửa; người trị liệu quỳ
phía dưới chân người bệnh, bàn tay ôm bắp cẳng chân, đầu ngón tay cái day ấn mạnh
lên huyệt Túc tam lý của người bệnh, từ chân này qua chân kia, có tác dụng điều
chỉnh cơ năng hệ tiêu hóa, giúp bài tiết phân được dễ dàng, khắc phục các nguy
cơ gây bệnh đối với hậu môn. Người bệnh có thể ngồi trên ghế, day ấn lên huyệt
đạo này để tự chữa trị.
▼ TRƯỜNG CƯỜNG
- Tác dụng: Là huyệt đạo đặc biệt quan trọng trong việc trị liệu bệnh
trĩ.
- Vị trí: Nằm hơi cao hơn hậu môn về phía sau lưng, ngay đầu mút
phía dưới đốt xương cụt thứ nhất từ dưới lên.
- Phương pháp trị liệu: Để người bệnh nằm sấp, hai chân hơi dang ra;
người trị liệu quỳ phía bên cạnh, chồm về phía trước, hai bàn tay đè lên hai
bên mông, đầu hai ngón tay cái cùng lúc ấn mạnh lên huyệt Trường cường của người
bệnh từ 3 - 5 giây, lặp lại như thế 4 - 5 lần. Sau khi kích thích lên huyệt
Bách hội, tiến hành tác động như thế lên huyệt Trường cưừng, có hiệu quả rất
cao trong việc khắc phục các triệu chứng bệnh trĩ.
▼ HỘI DƯƠNG
- Tác dụng: Lá huyệt đạo quan trọng, thúc đẩy máu huyết xung quanh hậu
môn lưu thông tuần hoàn, có hiệu qủa trong việc khắc phục các triệu chứng bệnh
trĩ.
- Vị trí: Hai huyệt đối xứng qua và cách đốt xương cụt ít nhất từ dưới
lên chừng một đốt ngón tay, hơi cao hơn huyệt Trường cưởng.
- Phương pháp trị liệu: Để người bệnh nằm sấp, hai chân hơi dang ra;
người trị liệu quỳ bên cạnh, chồm về phía trước, hai bàn tay đè hai bên mông, đầu
hai ngón tay cùng lúc ấn mạnh lên hai huyệt Hội dương của người bệnh từ 3 - 5
giây, lặp lại như thế 4 - 5 lần, đặc biệt có hiệu quả trong việc thúc đẩy máu
huyết quanh hậu môn lưu thông tuần hoàn và khắc phục các triệu chứng của bệnh
trĩ.
Bệnh trường vị hư hàn, trĩ ngoại.
1- Bệnh dạ dày và đại tràng đã nhiều năm nay. Cháu đã từng điều trị
Tây y nhưng chỉ đỡ được một thời gian ngắn, sau lại tái phát. Bệnh biểu hiện rõ
những lúc lo nghĩ, thay đổi thời tiết, ăn các chất tanh, kích thích...
2- Cháu bị bệnh trĩ 6 năm nay. Hiện búi trĩ sa khoảng 2 cm, rất khó
chịu. Bệnh này cháu chưa từng điều trị dưới bất kỳ hình thức nào Bác ạ.
3- Bệnh đau lưng, cảm giác tê bên chân trái. Điểm đau là ở đốt sống
ngang thắt lưng và thường đau về đêm khi nằm.
A-Phân tích dấu hiệu bệnh tìm
nguyên nhân :
1-Bệnh trường vị (ruột và
bao tử) không chuyển hóa do không đủ khí lực và nhiệt độ, vì ăn nhiều những thức
ăn hàn mát lạnh.ngưng đọng trong bao tử nên đầy hơi trướng bụng, ợ hơi, nếu thức
ăn chứa lâu trong bao tử không chuyển hóa lại bị lên men tăng nồng độ làm ợ
chua sẽ trở thành loét bao tử, nặng hơn nữa là ung thư bao tử.
2-Ruột bị hàn do uống nhiều
nước làm xệ ruột, trong ruột không đủ khí lực co bóp đẩy phân để ruột co rút trở
lại bình thường, nếu ăn những thức ăn không tiêu, khi đi cầu phải rặn, múi cơ ở
hậu môn lòi ra gọi là bệnh trĩ ngoại..
3-Do uống nhiều nước, bụng
dưới to phình, nặng khi nằm đè lên những sợi thần kinh, còn khi đứng bụng nặng
kéo thần kinh lưng cột sống làm chèn ép đĩa đệm ngang thắt lưng, giống như
trong thời gian các bà đang mang bầu cũng đau lưng như thế khi cái thai từ 6
tháng trở lên, còn những người uống nước nhiều bụng to thì giống tình trạng
mang bầu thường xuyên, hậu qủa làm nghẽn tuần hoàn khí huyêt xuống chân khiến
chân tê, đau khớp gồi, đau lưng và thần kinh tọa, muốn thí nghiệm xem bệnh có nặng
hơn không thì cứ uống thêm nhiều nước sẽ biết hậu qủa tai hại của việc uống nhiều
nước, cuối cùng chức năng thận hư phải bị lọc thận, hoặc bị ung thư ruột do bị
trương phình ở trực trường chứa đầy phân lâu ngày làm thối hư 1 đoạn ruột, khi
uống nước nhiều mà vẫn bị táo bón 1 tuần mới đi một lần do táo bón giả vì chức
năng co rút của ruột yếu không đẩy phân ra được, nếu uống thuốc táo bón làm liệt
cơ ruột thêm..
B-Cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần
:
Tinh :
1-Trước khi ăn uống 20 viên thuốc bắc Bổ Trung Ích Khí Hoàn giúp
chuyển hóa thức ăn.
(Bổ Trung Ích Khí Hoàn=Bu Zhong Yi Qi wan Trị cơ thể suy nhược, khí
hư huyết trắng, sa tử cung, trĩ, tỳ vị suy yếu hư hàn, thức ăn biến thành đàm.)
2-Sau khi ăn xong, uống Trà Gừng Mật Ong, có bán thành gói sẵn ở tiệm
thuốc bắc, giúp tiêu hóa, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn biến thành
máu.
3-Không được uống nước nhiều, không ăn những chất chua làm mất máu,
mất hồng cầu, không ăn những chất hàn lạnh làm thức ăn không chuyển hóa thành
chất bổ mà ứ đọng lại bao tử sẽ bị lên men làm ợ hơi chua và loét bao tử gây
nên khô khát ở cổ họng..
Khí :
1-Sau khi ăn cơm 30 phút, tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200
l ần giúp bao tử tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ và loại
bỏ cặn bã nhanh ra khỏi bao tử và ruột.
http://www.youtube.com/watch?v=LYsdFolNWRM
2-Sau khi tập xong bài Kéo Ép Gối, tập tiếp bài Nạp Khí Trung Tiêu để
phục hồi chức năng co bóp của ruột ép phân ra ngoài, phục hồi chức năng thận và
bàng quang, làm ấm hạ tiêu để chữa trĩ.
http://www.youtube.com/watch?v=GG-PeKmuoGg
3-Tối trước khi đi ngủ, dùng tay cái ấn đè vào huyệt Trung Quản trung điểm của đoạn thẳng từ mỏm xương ức đến rốn,
ấn đè sâu 3cm, nằm nghe khí chuyển trong bụng nước chảy từ trong bao tử và gan
hay từ trên ngực xuống ruôt, làm sôi bụng, ấn đè lâu cho đến khi hết nghe khí
chuyển động thì ngưng, đổi sang huyệt
Khí Hải dưới rốn 5cm, cũng ấn đè sâu 3cm nghe khí chạy ra sau lưng và xuống
chân.
4-Xông trĩ bằng nước nóng
với 2 thìa bột phèn chua. Nấu phèn chua với 1 lít nước cho sôi tan phèn, đổ vào
trong bô cao dùng để tiêu tiểu, ngồi xông 30 phút, rồi nước nguội dùng để rửa,
sau đó dùng lá Dấp Cá giã nhuyễn đắp lên, hay ngồi lên 30 phút, làm teo trĩ, hoặc
bôi kem trĩ của tây y có bán ở tiệm thuốc tây hay kem thuốc bắc có bán ở tiệm
thuốc bắc
Thần :
Trước khi đi ngủ 30 phút, nằm tập thở rhiền ở Đan Điền Thần. giúp
tăng tính hâp thụ và chuyển hóa thức ăn, làm ấm trường vị, thân nhiệt và áp huyết,
giảm đau, an thần, ngủ ngon.
Thân
doducngoc
Ghi chú :
So sánh với bài 404, chú trọng đến gốc bệnh, nguyên nhân áp huyết thấp,
thiếu khí huyết, nên cần ưu tiên bổ máu tăng áp huyết, khí huyết bằng bài thuốc
Phụ Tử Bổ Trung Thang, nên bệnh nhân đã không lập lại câu hỏi bệnh nấm và tổ đỉa
ở bàn chân và bệnh ngứa, nám da mặt như bài 404 nữa, mà lập lại câu hỏi về bệnh
trường vị. Nên bài trả lời 408 chú trọng đến nguyên nhân gây ra bệnh trường vị
và bệnh trĩ và cách chữa. Bài này được phổ biến chung cho những bệnh nhân nào bị
bệnh trường vị và trĩ do hư hàn, ăn không tiêu áp dụng. Còn chính bệnh nhân
trong bài này gốc bệnh do thiếu máu mà không bổ máu theo bài 404 để áp huyết
lên cho đủ tiêu chuẩn, thì tất cả những dấu hiệu bệnh phát sinh chỉ là hậu qủa
của bệnh thiếu máu áp huyết thấp, đến khi lớn tuổi hơn mà áp huyết vẫn chỉ bằng
đứa trẻ thì hậu qủa gây ra bệnh ung thư. Do đó, nếu cứ chữa vào ngọn bệnh ,thì
bệnh này chưa chữa khỏi lại phát sinh ra bệnh khác, rồi lại bệnh khác, bệnh
khác, cứ chạy đuổi theo bệnh để chữa thì chữa hoài không khỏi cho đến khi trở
thành bệnh ung thư thì hết chữa.
Cách chữa của môn khí công y đạo không bao giờ chữa theo ngọn bệnh,
mà điều chỉnh gốc bệnh bằng cách điều chỉnh Tinh-Khì-Thần, nên tùy duyên bệnh
nhân muốn áp dụng theo hay không mà thôi.
phuchoitaibien.com
Chúng tôi đã điều trị thành công các bênh khó về: cột sống, xương khớp, Thoát vị đĩa đệm, Thần kinh tọa, phục hồi chức năng sau tai biến, hội chưng cổ vai gáy, đau mỏi toàn thân...
Trung
Tâm Bấm Huyệt Trị Liệu luôn luôn duy trì một tâm niệm: “Sức khỏe là
vàng”. Đi cùng tâm niệm đó, Trung Tâm Bấm Huyệt Trị Liệu luôn cố gắng
hết mình để đem lại những gì tốt nhất cho sức khỏe của bệnh nhân.
Trung
Tâm Bấm Huyệt Trị Liệu được đánh giá là một trong những nơi tư vấn -
chăm sóc sức khoẻ có độ tin cậy cao. Đến với Trung Tâm Bấm Huyệt Trị
Liệu Với những chuyên viên nhiều năm kinh nghiệm trong chẩn đoán và trị
liệu ứng dụng các phương pháp điều trị bệnh không dùng thuốc của cổ
nhân như: Bấm huyệt, khí công, Thập thủ đạo, Cứu ngải....
Chúng tôi đã điều trị thành công các bênh khó về: cột sống, xương khớp, Thoát vị đĩa đệm, Thần kinh tọa, phục hồi chức năng sau tai biến, hội chưng cổ vai gáy, đau mỏi toàn thân...
Những trường hợp sai tư thế, sút lưng,gây đau cấp chỉ 1 lần điều trị trở lại bình thường.
- Đăc biệt khôi phục những di chứng do tai biến để lại như:Liệt mặt, méo mồm, mắt không nhắm kín, ăn uống nuốt không trôi, đại tiểu tiện không tự chủ, tiểu đêm nhiều………
- Đăc biệt khôi phục những di chứng do tai biến để lại như:Liệt mặt, méo mồm, mắt không nhắm kín, ăn uống nuốt không trôi, đại tiểu tiện không tự chủ, tiểu đêm nhiều………
- Bấm huyệt dưỡng sinh làm lưu thông khí huyết, phòng ngừa bệnh tật, hóa giải những căng thẳng mệt mỏi…dù chỉ 1 lần.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét