Cơ thể người là một bộ máy sinh học vô cùng huyền diệu, có khả năng tự điều chỉnh rất cao. Nắm được cơ chế của nó qua các đồ hình và sinh huyệt sẽ giúp cơ thể tự điều chỉnh mỗi khi bị trục trặc.
.
01. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:

Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.
02. Mắt nhắm không khít: Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.
03. Mũi nghẹt cứng:
Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán – từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.
04. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:
Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.
05. Bong gân, trật khớp cổ tay:
Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác – huyệt 100 – phản chiếu đúng cổ tay).
06. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân:
Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.
07. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):
Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.
08. Gai gót chân:
Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.
09. Đầu gối đau nhức: Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.
10. Táo bón lâu ngày: Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút – khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!
11. Nhức đầu
a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.
b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.
c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.
d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.
e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.
f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.
g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.
h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.
i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.
k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.
l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.
k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.
12. Mất ngủ
Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon.
Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn – đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.
13. Sình bụng (do ăn không tiêu)
Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!

15. Nấc cụt
Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:
a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).
b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!
c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!
16. Đau bụng
Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:
a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.
b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.
c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.
17. Đau tử cung:
a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.
b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.
18. Đau đầu dương vật:
Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.
19. Đau khớp háng:
Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.
20. Đau gót chân:
:Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.
PHẦN BA
21. Đau bụng kinh:
Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.
22. Ho ngứa cổ:
a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.
b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.
23. Huyết áo cao:
Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.
24. Huyết áp thấp:
Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.
25. Huyết trắng:
Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.
26. Bế kinh:
Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.
27. Lẹo mắt (lên chắp)
Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.
28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)
Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.
a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.
b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.
29. Mắt không di động được
Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.
30. Đắng miệng:
Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!
31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)
Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.
32. Hắt hơi liên tục

HO KHAN LÂU NGÀY:
Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.
34. HÓC (HộT TRÁI CÂY, XƯƠNG)
Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.
35. CÁC KHớP NGÓN TAY KHÓ CO DUỗI:
Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.
36. MắT QUầNG THÂM
Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.
37. BUồN NGủ NHÍU MắT LạI:
Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.
38. NHảY MŨI:
Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!
40. QUAI Bị:
Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.
41. NHứC RĂNG:
Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.
42. MắT Đỏ
:Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.
43. MắT NHứC:
Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.
44. MắT NHÁY (GIậT)
Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) củza đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.
45. TÊ LƯỡI, CứNG LƯỡI
a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.
b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.
46. KHAN TIếNG
a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.
b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày
Mong rằng sẽ hữu ích cho chúng ta trước khi phải đến thăm bác sỹ.
Chứng rong kinh và cách chữa bằng Diện chẩn
(Ở đây không bàn luận về chứng u, bướu ở cơ quan sinh dục nữ - chứng hay gây ra rong kinh)
1. Theo Đông Y
Nguyên Nhân : Đa số do mạch Nhâm và mạch Xung bị suy yếu, huyết hải không giữ huyết lại được gây nên bệnh. Có thể gặp một số nguyên nhân chính sau:
a) Huyết Nhiệt: huyết gặp nhiệt thì chảy ra.
Đặc
điểm : Kinh nguyệt ra nhiều, mầu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, dính, khát muốn
uống nước lạnh, tâm phiền, hay mơ, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi
vàng, mạch Hoạt Sác.
Điều trị: Thanh nhiệt, lương huyết, cố Xung, chỉ huyết.
b) Huyết ứ:
Người thường hay uất ứ, giận dữ, khí bị uất kết làm cho huyết bị ứ trệ
hoặc hoặc lúc có kinh hoặc sau khi sinh huyết còn dư không ra hết,
hoặc do ngoại tà hoặc do phòng sự không điều độ, ứ huyết tụ lại bên
trong, ứ trở ở mạch Xung Nhâm, huyết không quy kinh được gây ra kinh
nguyệt ra nhiều.
Đặc
điểm : Kinh ra nhiều, mầu đỏ tối, có cục, hành kinh thì bụng đau hoặc
khi hành kinh bụng dưới trướng đau, lưỡi tím tối hoặc có vết ứ huyết,
mạch Sáp có lực.
Điều trị: Hoạt huyết, hóa ứ, cố Xung, chỉ huyết.
c) Khí hư:
Khi khí bị hư, không nhiếp được huyết khiến cho huyết ra nhiều. Sách
‘Khôn Nguyên Thị Bảo’ viết: “Mạch Xung Nhâm hư yếu thì khí không nhiếp
được huyết”.
Đặc
điểm : Kinh ra nhiều, mầu đỏ nhạt hoặc lợn cợn, tinh thần uể oải, hơi
thở ngắn, nói xàm, bụng dưới xệ xuống, sắc mặt trắng, lưỡi nhạt, rêu
lưỡi nhạt, mạch Hoãn Nhược.
Điều trị: Bổ khí, thăng đề, cố Xung (mạch), chỉ huyết.
d) Đàm trở:
đờm ngăn trở ở Huyết hải khiến cho huyết bị đẩy xuống. Sách ‘Đan Khê
Tâm Pháp’ viết: “Đàm nhiều, chiếm mất vị trí của Huyết hải cho nên huyết
xuống nhiều”.
Đặc điểm: Kinh ra nhiều, ngực sườn đầy tức. Rêu lưỡi đục, trơn, mạch hoạt.
Điều trị : Đàm nhiều nên khử đàm, hóa thấp.
2. Chữa bằng Diện chẩn
Trong Diện chẩn GS. TSKH. Bùi Quốc Châu đã dạy : Trong chữa trị phải tùy,
biến. Người xưa cũng dạy rằng : ‘ Dĩ bất biến, ứng vạn biến ‘. Vì vậy
chúng ta phải vận dụng hết sức linh hoạt. Tất cả các phác đồ trong các
sách không phải là bất biến.
( Dưới đây chỉ phân tích các huyệt liên quan đến khí, huyết và đàm).
a) Chứng huyết nhiệt : dùng bộ giáng gia giảm 124,34,26,61,16, 3- ,0.
Trong đó :
16, 61 : cầm máu toàn thân, làm giảm tiết dịch mạnh.
3 : làm mát phế, mát da lông.
0 : Bổ thận thủy- bổ thủy để chế hỏa, cầm máu.
124, 34, 26 : an thần, điều hòa thần kinh.
b) Huyết ứ : Dùng 16,61,50,7,37.
Trong đó :
7 : hành khí, hành huyết( khí hành thì huyết hành)
37 : thông khí huyết, chữa xuất huyết rong kinh ( 37 huyệt thuộc tạng Tỳ- Tỳ nhiếp huyết )
50 : thuộc tạng Can- can tàng huyết, tác dụng chữa rong kinh, băng huyết.
Dùng ngải cứu hơ huyệt khí hải.
c) Khí hư : dùng bộ thăng gia giảm 22, 127, 7,1, 50,37, 103 thêm 16, 61.
d) Đàm trở : dùng bộ huyệt 127,7, 37,16,61.
Trong đó :
127 :
Ôn trung, bổ trung ích khí, chữa đau bụng, lạnh bụng, đau bụng kinh,
hành khí, tăng lực mạnh, liên hệ đáy tử cung, gót chân.
37 : ngoài tính chất như đã nêu trên còn có tác dụng làm giảm đàm nhớt.
Ngoài ra trong điều trị, tùy từng lúc mà gia giảm bộ huyệt Bổ âm huyết.
3.Thực tiễn điều trị
Dưới đây tôi nêu 2 bệnh án mà tôi đã điều trị bằng Diện chẩn.
a) Chị Minh 41 tuổi ở xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội.
Bệnh
sử : Bệnh nhân cho biết rong kinh đã 3 tháng. Đã uống thuốc Tây, thuốc
Đông Y nhưng không đỡ. Có lúc kinh nguyệt ào ra nhiều, rất lo sợ .
Khám : Người xanh mét, mệt mỏi, mất ngủ.
Mạch trầm tế.
Định bệnh : Khí huyết lưỡng hư
Cách chữa :
- Day ấn bộ Thăng gia giảm, thêm 16, 61 để cầm máu.
- Day ấn bộ huyệt Bổ âm huyết.
- Day ấn bộ huyệt An thần.
Chữa 3 ngày đầu, mỗi ngày 2 lần huyết không ra nữa, tinh thần phấn khởi.
4
ngày sau, mỗi ngày chữa 1 lần xoay quanh mấy bộ huyệt trên, người khỏe
mạnh dần. Bệnh nhân rất phấn khởi, tin tưởng và nghỉ chữa. Lúc này tôi
mới thở phào nhẹ nhõm.
b) Chị Tuyết 43 tuổi, xã Phú Diễn, Từ Liêm, Hà nội.
Bệnh sử: Mồng 5 Tết năm 2010, gia đình mời đến xem bệnh.
Bệnh
nhân nói: Đã nhiều ngày nay, bụng dưới đau quặn từng cơn, huyết ra
thành hòn cục. Gia đình lo sợ, đi mua thuốc tây về để tiêm cho cầm máu,
nhưng chưa tiêm.
Khám bệnh: sau khi thăm khám xong, tôi cho rong kinh này là do huyết ứ gây ra . Máu đã ly kinh rồi không thể vít lấp. Cứ cố vít lấp, cố cầm máu thì chẳng bao giờ khỏi được. Phải cho thông huyết, hành ứ ngay thì mới mong khỏi bệnh.
Nghĩ vậy tôi dùng:
- Lấy ngải cứu hơ huyệt Khí hải.
- Day ấn huyệt 37, 7, 50.
- Day ấn bộ huyệt Bổ âm huyết.
Chữa 2 lần, sau hướng dẫn gia đình hơ ngải cứu huyệt Khí hải, Quan nguyên, Túc tam lý, 3 ngày sau bệnh khỏi.
4. Kết luận:
Trên đây chỉ là những phân tích của tôi khi chữa bệnh. Kinh nghiệm Diện chẩn của tôi còn ít, chỉ mong luận bàn để chúng ta cùng nhau nâng cao năng lực chữa bệnh nhằm ứng dụng môn Diện chẩn ngày càng tốt hơn. Nếu có gì sai sót, xin bạn đọc chỉ giáo.
Hà nội 4 tháng 3 năm 2010
=================================================
Chữa thành công môt ca tiền ung thư máu
Chị Đinh thị Minh Hiền quê ở Nam Định hiện sống ở Cầu Diễn, Hà Nội, từng theo học Diện chẩn ở Hà nội năm 2010. Trong lúc bệnh tình của chị gái trong cơn hiểm nghèo, “trong cái khó ló cái khôn”, đã áp dụng sáng tạo việc kết hợp thực phẩm chức năng (TPCN) với Diện chẩn và đã cứu được chị gái mình. Dưới đây là thư của chị Hiền gửi cho tác giả của conongmat.
Em chia sẻ với anh một ca bệnh nhân mà em cứu sống được - chính là chị ruột của em.
Chị gái em tên là Đinh Thị Nga năm nay 69 tuổi, sống tại thành phố Nam Định. Năm 2008 tự nhiên ngoài da phồng lên các mụn nước như phải bỏng, có chỗ to bằng cả bàn tay. Nếu không lấy kim châm ra tháo nước đi thì thì bọc nước cứ to dần. Mới đầu là vài bọc sau đó mọc nhiều hơn trên toàn thân, cả trên mặt nữa. Đi khám chữa bệnh ở bệnh viện da liễu tại thành phố Nam Định mấy tháng liền không khỏi. Rồi chuyển về bệnh viện Da liễu trung ương , rồi chuyển về khoa huyết học của bệnh viện Bạch Mai. Làm rất nhiều xét nghiệm phát hiện bệnh thiếu tiểu cầu trong máu, là giai đoạn tiền của ung thư máu. Bác sỹ nói rằng từ giai đoạn này sẽ chuyển sang ung thư máu rất nhanh nếu không chữa được. Suốt 2 năm liền đi khám chữa bênh, vừa bệnh viện da liễu trung ương, vừa bệnh viện Bạch Mai mỗi năm vài lần . Kết quả chỉ đỡ sau khi được bổ sung tiểu cầu, nhưng chỉ hơn 1 tháng sau bệnh lại phát triển. Lần sau bệnh nặng hơn lần trước. Gia đình em bi quan lo lắng. Tháng 3-2010 tự tay em phải đi phóng rửa 1 cái ảnh cho chị để phòng khi không may qua đời thì có bức ảnh hẳn hoi để thờ tự.
Thế
rồi ngày 25-6 -2010 trong thời gian đang theo học diện chẩn tại Hà nội
có người bạn mời em đi nghe diễn đàn các Bác sỹ báo cáo hiệu quả dùng
thực phẩm chức năng tại giảng đường của trường đại học Y khoa Hà Nội ở
phố Tôn Thất Tùng. Có 40 bác sỹ tham dự, trong đó có 4 bác sỹ báo cáo.
Thực sự một tia hy vọng lóe lên khi có một bác sỹ đã báo cáo chữa khỏi
cho một bệnh nhân thiếu tiểu cầu như chị gái em. Tháng 7-2010 em về Nam
Định thăm chị gái em, lúc đó chị em đã rất mệt ko tự nấu lấy ăn, ko tự
tắm rửa giặt rũ được phải nhờ con. Chị em bảo tôi chỉ còn 20% sự sống,
không ăn được, ko ngủ được, toàn thân mỏi rã, mặt mũi bị biến dạng, da
đen cháy như người bị sét đánh, đầu nổi mụn chốc đen từng đám, tay chân
đau nhừ. Em hỏi chị em: Bác sỹ có có cho biết nguyên nhân nào dẫn đến
bệnh thiểu tiểu cầu trong máu ? Chị em nói do gan kém . Sau khi đọc và
nghiên cứu tài liệu của thực phẩm chức năng (TPCN) , em tiến hành cho
dùng một loại cao dán vào lòng bàn chân của Nhật bản để thải độc và cho
uống 6 sản phẩm của thực phẩm chức năng. Trong đó có loại để tăng năng
lượng cho cơ thể, có loại hỗ trợ chức năng gan, thận, có loại kích thích
ăn uống. Lúc đó chưa hỗ trợ tý nào về Diện chẩn cả, phần còn đang đi
học chưa thuộc bài, phần vì bệnh quá nặng không dám áp dụng. Sau 3 tháng
tức tháng 10-2010 em về thăm thấy đỡ 50%, các bọc nước ko phát triển
hơn nữa mà dừng lại. Lúc này em kết hợp chữa bằng Diện chẩn về bệnh đau
chân tay, vai gáy do thoái hóa xương khớp. Đặc biệt em kết hợp chữa
thiếu tiểu cầu bằng Diện chẩn được 10 ngày vì còn phải về và tiếp tục
cho chị dùng phác đồ điều trị của TPCN.
Tháng 1-2011 tức 3 tháng sau lại về thăm chị thì bệnh đỡ được 80% , bây giờ da dẻ trắng trở lại , tóc mọc đen, da đầu trắng bóng. Thực sự là em mừng rơi nước mắt, và ko tin nổi vào mắt mình nữa. Bây giờ chị em đã đi ra chợ, đã nấu cơm cho mình ăn và thậm chí nấu hộ cả cho con nữa. Em tiếp tục hỗ trợ Diện chẩn được 4 hôm nữa về chức năng gan, thận và tiểu cầu.
Ông
anh trai em ( em giáp với bà chị gái em ) là dược sĩ cao cấp trong quân
đội về hưu ,bán thuốc tây ở gần nhà chị còn thốt lên rằng bệnh nặng thế
mà sao lại khỏi được, tức là cũng ko tin nổi. Cả xóm nơi chị em sinh
sống ai cũng ngạc nhiên là ko thấy đi viện mà sao uống thuốc gì lại khỏi
bệnh. Chị em bảo em gái tôi nó chữa bệnh cho tôi thì chẳng ai tin cả,
vì có làm bác sỹ đâu mà chữa được bệnh…
Tổng số điều trị trong 6 tháng bằng TPCN tốn khoảng 10 triệu thôi, em tài trợ toàn bộ.
Đây là một ca bệnh hiểm nghèo, bệnh viện Bạch Mai bó tay. Thế mà em đã áp dụng cả y học dân gian lẫn nền khoa học hiện đại ngày nay để tự cứu sống chị gái mình.
Đây là một ca bệnh hiểm nghèo, bệnh viện Bạch Mai bó tay. Thế mà em đã áp dụng cả y học dân gian lẫn nền khoa học hiện đại ngày nay để tự cứu sống chị gái mình.
==============================================
Ngừa một ca bệnh tai biến mạch máu não
Bệnh nhân: Bà Tiếp, 73 tuổi.
Địa chỉ: Xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội.
Thời gian: Ngày 12/9/2010
Bệnh
nhân đến nhà kể: mấy hôm nay, tự nhiên thấy người khó chịu, bên nửa
người phải cảm thấy như không có cảm giác, tay cầm nắm một vật tự nhiên
như muốn rơi ra, nói có lúc khó, chân phải đi như muốn vơ rác.
Bệnh nhân có tiền sử huyết áp cao.
- Kiểm tra huyết áp 2 tay. Huyết áp tay trái 130/80, tay phải 150/90
Căn cứ vào biểu hiện chứng trạng của người sắp bị trúng phong:
- Tự nhiên đang nói lại không hiểu nói g ì( rối loạn ngôn ngữ).
- Đang đi thấy mất cảm giác nửa người.
- Đang cầm nắm vật gì, tay tự nhiên như muốn rời ra.
- Đang đi, một bên chân thấy như muốn đưa ra loằng ngoằng (kiểu như vơ rác).
Đây là bệnh nguy hiểm, cần xử lý gấp.
Xử trí :
Day ấn các bộ huyệt:
- Bộ huyệt Tiêu viêm khử ứ và gạch từ vùng huyệt 106, 65, 8 bên trái để nâng huyết áp 2 tay đều nhau.( Diện chẩn kết hợp Đông Tây y- LY Tạ Minh).
- Bộ huyệt Bổ âm huyết.
- Bộ huyệt ổn định thần kinh.
Ngoài ra:
- Bệnh nhân nằm sấp, dùng thuốc xoa bóp ( thuốc hoạt huyết, thông ứ) xoa bóp mặt sau của 2 chân từ gót chân lên mông, dọc hai bên thăn lưng.
- Dùng cầu lăn đinh lớn, lăn khắp mặt sau 2 chân và 2 thăn lưng.
- Bệnh nhân ngồi, dùng cây cào to cào nửa đầu bên trái từ mi tóc trán đến tận ót.
Thời gian chữa một lần khoảng 45 phút.
Kết quả
Ngay sau lần chữa đầu tiên, bệnh nhân thấy các triệu chứng gần như khỏi đến 70 %.
Sau 7 lần chữa, bệnh nhân bình phục hoàn toàn. Bác rất sung sướng và cảm phục. Tôi mừng vui và trút được lo lắng.
Theo dõi hơn sáu tháng nay Bác vẫn mạnh khỏe.
=======================================
BỆNH HẸP VAN TIM – HUYẾT ÁP CAO
Bệnh nhân: Nguyễn Thị Thủy 58 Tuổi..
Địa chỉ: Số 9, Ngách 33, Văn Chương 2, Đống đa, Hà nội . Tel: 0987059988.
Bệnh: Hẹp Van tim 2 lá, 3 lá và Huyết áp cao.
Cách
đây 7 năm đã nội soi và nong van động mạch vành. Hiện tại đã khám bệnh
viện Bạch Mai Hà nội và chuyển BV Việt Đức mổ thay van tim nhân tạo, vì
nong van động mạch vành cách đây đã 7 năm nên đã hẹp lại gây tức ngực
khó thở, thường xuyên mệt mỏi. Huyết áp 115/70 mmHg, nhịp tim đập cách quãng, có lúc đập dồn dập. Bệnh viện Việt Đức hẹn ngày phẫu thuật vào 30-11-2009.
Sau 2 đợt đièu trị nói trên, siêu âm kết quả:
Trong
lúc chờ đợi phẫu thuật, được bạn giới thiệu chữa bằng phương pháp Diện
chẩn Bùi Quốc Châu, tại Chi nhánh Trung tâm Diện chẩn phía Bắc Việt Nam
số 4 Phố Thể Giao Phường Lê Đại Hành Quận Hai Bà Trưng Hà nội. Bệnh nhân Nguyễn Thị Thủy được chữa từ ngày 12-11-2009 đến 13-11-2009,
bệnh nhân cho biết không còn hiện tượng hồi hộp, thoải mái, hết tức
ngực, không còn hiện tượng bực tức trong người, ăn ngon miệng, giấc ngủ
sâu.
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
* Lăn lòng bàn tay 2 bên (lăn bên trái trước, phải sau) để điều hòa huyết áp.
* Gạch hơ ngải cứu nắm tay bên trái, ấn day gốc ngón tay út để điều hòa nhịp tim.
* Ấn, hơ ngải cứu ngón tay út, ngón tay trỏ, ngón tay cái, chữa hở van tim 2lá, 3 lá.
* Lăn xuôi từ huyệt 106 xuống huuyệt số 8.
* Lăn hai bên cùng mày, lăn từ đầu mày ra cuối đuôi mày (không lăn ngược).
* Lăn từ đầu mày bên trái xuống hết sườn mũi bên trái
* Gạch từ huyệt 61 đến huyệt số 29 đến ụ cằm bên trái để hạ huyết áp.
* Lăn từ huyệt 61 đến khóe miệng bên trái ( nơi phản chiếu các van tim).
* Lăn từ huyệt 61 ra trước tai (vùng huyệt của tam giác tâm).
*
Cào da đầu cào nửa đầu bên trái trước, cào nửa đầu bên phải sau, khi
cào phát hiện chỗ nào khác thường như đau, tê, rát, bì...thì cào nhiều
lần cho tới khi giảm đau .
* Tác động 6 vùng Hệ Bạch huyết.
* Ổn đinh thần kinh ấn: 34- 124- 103- 106.
* Điều hòa chức năng Tâm ấn: 106- 26- 8- 179- 57- 61—3—- 267—279‑ - 73‑ - 59‑
* Làm khỏe tim chống mệt mỏi ấn: 62- 162- 120.
* Làm lợi tiểu để hạ huyết áp ấn: 87- 51‑ - 156‑ .
* Gạch day ấn tam giác Phế: 13- 28- 60. đưa Ô xy vào phế bệnh nhân dễ thở.
* Trị cơn tức ngực ấn day, gạch: 103- 106- 189- 73- 59‑ .
* Lăn day , ấn vùng cổ vai, gáy.* Lăn dọc 2 bên thăn lưng kết hợp hơ ngải cứu, gõ búa cao su phản chiếu tim vùng thắt lưng.
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
Đợt 1 từ ngày 12-11- 2009 đến 31-11-2009, điều trị ngày 2 lần, sức khỏe bệnh nhân tiến
triển tốt, ăn ngon miệng, ngủ sâu, tinh thần tin tưởng phấn khởi lạc
quan vào phương pháp Diện chẩn, bệnh không có biểu hiện tái phát, bệnh
nhân và gia đình quyết định không vào viện phẫu thuật, và xin điều trị
tiếp đợt 2 từ ngày 1-12- 2009 đến ngày 28-2-2009, điều trị mỗi ngày 01 lần để củng cố
sức khỏe. Những ngày nóng nức nhiệt độ cao, thay đổi thời tiết bệnh
nhân không có biểu hiện về bệnh tim mạch hay huyết náp, sức khỏe mỗi
ngày một khá lên. Bệnh nhân cùng gia đình đi nghỉ mát tắm biển vui vẻn
và cùng chồng tham gia học 01 khóa Diện chẩn để tự chữa bệnh và chăm sóc
phòng và trị bệnh cho chính mình.
Sau 2 đợt đièu trị nói trên, siêu âm kết quả:
· Van tim 2 lá từ 0.98 rộng ra 1.05.
· Van tim 3 lá từ 0.86 rộng ra 1.23
· Sau 25
ngày điều trị, bệnh nhân hết mỏi mệt ngực không tức, tinh thần thoải
mái, ăn ngủ tốt, huyết áp ổn định, làm việc bình thường, bệnh nhân và
toàn thể gia đình vui mừng tai qua nạn khỏi, không phải phẫu thuật, đỡ
tốn kém về kinh tế./.
==================================
RỐI LOẠN CẤU TRÚC GEN
Bệnh nhân : Luân 20 tuổi.
Bệnh viện ở Singapor kết luận Rối loạn cấu trúc gen.
Tình
trạng bệnh nhân: Suy nhược cơ thể, gầy yếu, nhiều khi đi không vững,
thường hay bị cảm, có lúc đau bất chợt ở các vị trí khác nhau trong cơ
thể, luôn mỏi mệt, ăn, ngủ kém, tiểu tiện ít, có khi sau 36 tiếng đồng
hồ mới đi tiểu tiện. Mọi hoạt động phải nhờ người trợ giúp kể cả đi lại.
Điều trị theo phương pháp Diện chẩn
· Quân bình năng lượng mỗi ngày một lần,liên tiếp trong một tuần lễ đầu.
· Hơ ngải cứu từ xương cùng ngược lên đỉnh đầu.
· Hơ ngải cứu 2 bên thăn lưng.
· Hơ ngải cứu theo phép đồng hình lồng ngực ở 2 bàn tay (tạo ra hình lồng ngực).
· Hơ ngải cứu đầu, đồng hình (hai nắm tay chập lại).
- Ấn bộ điều chỉnh Hệ tiết tố: 28- 8- 12- 63- 7- 113- 17.
· Ấn các huyết giải độc: 26- 3- 85- 87- 38- 50- 4- 290- 235- 1- 9- 14- 15- 0- 143.
· Tác động các vùng phản chiếu nội tạng.
· Cân bằng âm dương : 126- 103- 106- 300- 124- 34- 267- 73- 3- 156- 51- 0.
· Ấn các huyệt thuộc tiểu cầu : 103- 300- 1- 45- 29- 126- 19- 87.
Điều trị tuần thứ 2 và các tuần kế tiếp :
- Chỉnh Hệ nội tiết.
- Giải độc các vùng Nội tạng.
- Cân bằng.Âm dương.
- Ấn các huyệt làm mềm cơ : 37- 40- 127- 156- 19- 290- 16- 61- 73- 60.
· Ấn bộ 3 tiêu.
· Gạch, lăn, hơ ngải cứu vùng phản chiếu cột sống .
· Lăn
day, hơ ngải làm mềm các vùng cơ co cộm ở thăn lưng. Dùng các ngón tay
đẩy nhẹ các đốt sống lồi lõm, lệch trái, lệch phải, giúp các đốt cột
sống lưng trở lại trạng thái bình thường.
· Sau 2 tuần điều trị cháu đi được xe máy.
· Sau 2 tháng điều trị các vết trên mặt cháu dãn ra, biến đổi hài hòa sáng sủa.
========================================
Chữa đau thận
Bệnh nhân : Ông Quang
Bệnh : Đau vùng thắt lưng (đau vùng Thận)
Nằm co chân, duỗi thẳng chẩn ra cũng đau.
Điều trị :
-
Ấn sinh huyệt ở cẳng chân thấy buốt nhiều thông ra đầu ngón chân cái,
điểm đau sinh huyệt ở cẳng chân hết đau. Bệnh nhận thấy vùng ngang lưng
đau tăng lên một lúc rồi giảm dần .
-
Ấn lưng đồng hình ở ngón tay giữa, vùng thận đau nhói, đau tức sau đó
giảm dần cảm giác tan tan, vùng đau ngang lưng êm hơn. Bệnh nhân co chân
lên thấy vùng thận đau nhói. Bệnh nhân cho biết trước đây tội bị sỏi
thận.
- Ấn huyệt 41 vùng đau giảm chút ít.
- Ấn huyệt số 0 vùng ngang lưng đau tăng.
-
Ấn bộ giảm đau : 41- 87- 85- 14- 50- 37- 39- 60- 34- 156. Cơn đau dịu
dần. Bệnh nhân co chân lại, quay nghiêng thấy vùng thận giảm đau rõ rệt.
- Gạch sinh huyệt thận : 45- 17- 300. vùng thận đau tăng dữ dội.
- Ấn huyệt 41 vùng thận đau giật nhiều.
- Ấn huyệt 34 vùng thận hết co giật, giảm đau rõ rệt.
Bệnh
nhân tự đứng dậy, nhẹ nhàng cuối xuống, đi lại nhẹ nhàng, chỉ còn thấy ê
vùng thận không thấy đau như trước. Sau 25 phút chữa trị. Ngày hôm sau
bệnh nhân xem được Tivi.
Ngày hôm sau ấn các sinh huyệt kiểm tra 41- 156- 50- 87- 85- các sinh
huyệt không báo đau nữa, vùng ngang thăt lưng không còn biểu hiện đau.
Bệnh nhân nói chữa bệnh thần kỳ như phù thủy./.
========================================
Bệnh băng kinh
Tg: Phạm Minh Châu
Bệnh nhân: Nguyễn thị Xuân , 51 tuổi.
Địa chỉ: Giáo viên Trướng cấp II Phúc Thọ, Sơn Tây, Hà nội.
Bệnh: U xơ tử cung- U nang buồng trứng và Băng kinh
Theo kết quả Siêu âm:
U xơ kích thước (3,2X 2,7).
U nang buồng trứng kích thước : (41 X 29).
Băng kinh từ ngày 23 đến ngày 28 hàng tháng, bệnh nhân phải tiêm thuốc và nằm bất động 5 hôm bệnh không khỏi.
Chữa theo phương pháp Diện chẩn
- Ấn các huyệt cầm máu đến giảm đau buốt : 16-61- 50- 37.
-
Lấy tờ kết quả siêu âm dùng đầu dò gạch trên hình tử cung, buồng trứng.
Bệnh nhân cảm giác thấy chòng chành ở phần bụng dưới, vùng tử cung co
bóp nhanh, co bóp nhiều gây hồi hộp Tim.
- Ấn huyệt gốc cuối ngón tay út bên trái nơi phản chiếu Tm, cảm giác hồi hộp hết.
-
Hơ ngải cứu trên ảnh Siêu âm tử cung, Buồng trứng: Bệnh nhân thấy nòng
ngực bên trái, lan ra sau vùng giữa lưng, và có cảm giác nóng ở giữa
bụng giảm hơn, toàn bụng căng. Đi lại có cảm giác tức tức lan dần xuống
bụng dưới, thấy xuất hiện đau vùng cơ bụng.
- Ấn 156 và 41 hết đau cơ bụng.
- Ấn huyệt 37 cơ bụng hết căng, cơ bụng mềm ra, thấy nhẹ bụng dễ chịu.
Kết quả chữa 7 lần bệnh khỏi ./.
VIÊM TAI GIỮA
Tài liệu chuyên sâu - Tai Mũi Họng
MỤC TIÊU
1.Nắm được các triệu chứng lâm sàngcủa viêm tai giữa cấp và mạn tính
2. Nắm được tiến triển và điều trị của viêm tai giữa cấp và mạn tính để điều trị, theo dõi và dự phòng, tránh các biến chứng
3. Phân biệt được viêm tai giữa mạn tính mủ nhầy và mạn tính mủ mãn
4. Hiểu biết và tuyên truyền vấn đề phòng bệnh viêm tai giữa trong việc CSSKBĐ
ĐẠI CƯƠNG
Viêm
tai giữa (VTG) là bệnh rất hay gặp ở trẻ em và hài nhi. Nếu được điều
trị và theo dõi tốt, bệnh sẽ khỏi vã không có biến chứng.
Tỷ lệ VTG : từ 2,5% đến 3%(tổng số dân)
VTG có thể ảnh hưởng s c nghe. Bệnh có thể gây những biến chứng hiểm nghèo nguy hiểm tính mạng.
VTG không lây lan, nhưng ẢURI, vấn đề dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân, môi trường...có ảnh hướng đến bệnh.
Bệnh có nhiều dạng lâm sàng khác nhau tuỳ: tuổi, thể trạng, nguyên nhân, tổn thương, tiến triển...
NHẮC LẠI SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẨU VÀ SINH LÝ
GIẢI PHẨU:
Tai chia ra 3 phần: tai ngoài- tai giữa- tai trong.
-Tai ngoài: gồm vành tai và ống tai
Một số nhà di truyền học cho rằng hình dáng tai ngoài có liên quan đến sự di truyền của từng dòng họ.
-Tai giữa: gồm thùng tai và vòi Eust he.
+mặt ngoai là màng nhĩ, ngăn với tai ngoài
-Tai trong: gồm tiền đình và ốc tai
+tiền đình: gồm 3 ống bán khuyên nằm theo 3 bình diện tronh không gian, phụ trách chức năng thăng bằng.
+ốc tai: hình như ốc sên, 2 vòng 1/2, phụ trách chức năng nghe có cơ quan Corti.
SINH LÝ:
-Tai ngoài: lấy âm thanh và định hướng.
-Tai giữa : dẫn truyền âm thanh, biến thế và bảo vệ tai trong.
-Tai trong: nghe và giữa thăng bằng
VIÊM TAI GIỮA CẤP
A. VIÊM TAI GIỮA CẤP XUẤT TIẾT (otite aigue catarrhale transudative)
Nguyên nhân:
+ Do viêm mũi họng, viêm VA
+Do mất thăng bằng áp lực không khí giữa tai giữa và tai ngoài
+Do cơ địa dị ứng
2. Triệu chứng lâm sàng:
+Đau nhói trong tai hay t c ở tai như bị đút nút
+Ù tai tiếng trầm
+Nghe kém nhẹ kiểu truyền âm
+Nói có tiếng tự vang
Khám :
+Trương hợp dị ng có thể thấy m c nước trong tai giữa
3.
Tiến triển: thường diển tiến nhẹ, sau vài ngày có thể tự khỏi, nhưng
hay bị tái phát theo những đợt viêm mũi họng. Có thể thành viêm mạn tính
gây sẹo và xơ dính màng nhĩ.
B. VIÊM TAI GIỮA CẤP MŨ (otite aigue purulent )
Bệnh chỉ khu trú ở niêm mạc tai giữa, không có tổn thương xương.
1. Nguyên nhân:
+Thường do viêm mũi họng, viêm amidan, viêm V.A., viêm xoang.
+Sau các bệnh nhiễm trùng lây: như cúm, sởi...
+Sau chấn thương: do áp lực, do hỏa khí gây thủng màng nhĩ...
+Nguyên
nhân khác có thể gặp như: nhét bấc mũi sau để quá lâu, xì mũi không
đúng cách, do khối u ở vòm mũi họng, thoái hóa đuôi cuốn dưới làm tắc
vòi Eustasche
2. Triệu chứng lâm sàng: gồm hai giai đoạn:
a. Giai đoạn đầu:
Triệu
chứng chủ yếu là viêm mũi họng: bệnh nhân có thể sốt nhẹ hay sốt cao,
đau rát họng, chảy mũi, ngạt mũi, ho. có thể đau tai nhiều hoặc ít, có
thể có ù tai. Khám: màng nhĩ sung huyết.
b.Giai đoạn toàn phát;
Thời kỳ chưa vở mũ:
Toàn thân:
+Sốt cao 39 - 40 C, thể trạng mệt mỏi, nhiểm trùng, ở trẻ nhỏ có thể có co giật.
+Có thể có rối loạn tiêu hóa, nhất là ở hài nhi và trẻ nhỏ
Cơ năng:
+Đau dữ dội trong tai, đau bần bật theo nhịp mạch, đau lan nữa đầu.
+Nghe kém kiểu truyền âm
+Có thể có ù tai tiếng trầm
Thực thể:
+Ấn vùng nắp tai và sau tai có thể có phản ứng đau
+Màng
nhĩ dày hoặc đỏ rực lên, mất hết các mốc giải phẩu (tam giác sáng, cán
búa), đôi lúc màng nhĩ phồng và có chổ sáng bệch (mũ), có thể có hình vú
bò.
Thời kỳ vở mũ:
Có
thể do chích rạch hay tự vỡ mũ. Các triệu chứng giảm nhanh: hết sốt,
hết ỉa chảy, đỡ đau tai, bớt ù tai, có thể còn nghe kém nhẹ.
Khám thấy có mũ chảy ra ống tai ngoaì và thủng nhĩ
Nếu lỗ thủng nhỏ không đủ dẫn lưu các triệu chứng có thể còn tồn tại, cần chích rộng thêm.
3. Tiến triển và biến chứng:
Nếu
được điều trị và theo dõi tốt, chích rạch kịp thời, bệnh có thể khỏi
trong vòng ít tuần: mũ loãng dần và khô, màng nhĩ liền lại, không có di
chứng.
Nếu
không được điều trị và theo dõi không đúng có thể đưa đến các biến
chứng: viêm tai giữa mạn tính mũ, viêm tai xương chủm cấp, hoặc các biến
chứng nội sọ như: viêm màng não, áp xe não, liệt mặt, nguy hiểm tính
mạng.
5. Phòng bệnh:
Giải quyết tốt viêm mũi họng, nạo V.A. khi có chỉ định.
Nhỏ mũi trong các bệnh nhiễm trùng lây.
Điều trị và theo dõi tốt VTG cấp tính, không để trở thành mạn tính và gây các biến chứng.
VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH
Gồm
VTG mạn tính mũ nhầy và VTG mạn tính mũ mãn. Hai thể này khác nhau về
nguyên nhân, tổn thương giải phẩu bệnh, triệu chứng lâm sàng, biến
chứng, điều trị và tiên lượng.
VTG mạn tính mũ nhầy
|
VTG mạn tính mũ mãn
| |
Nguyên nhân
|
Thường do viêm V.A., viêm mũi họng
|
Do VTG cấp điều trị không đúng, VTG sau sởi,VTG sau chấn thương,do vi khuẩn mạnh
|
Tổn thương gpb
|
Chỉ tổn thương niêm mạc hòm nhĩ, không có tổ thương xương
|
Tổ thương cả niêm mạc và xương
|
Triệu chứng lâm sàng
|
Chảy mũ tai từng đợt, phụ thuộc viêm V.A., mũ chảy ra nhầy-dính-không thối (nếu có mùi là do đọng), ít khi ảnh hưởng sức nghe
Lỗ thủng thường nhỏ, sắc cạnh, ở 1/4 trước dưới
|
Thường
chảy mũ tai kéo dài, mũ đặc xanh thối, có thể có cholesteatome, nghe
kém truyền âm ngày càng tăng, có thể đau âm ỉ trong đầu hay nặng đầu
Lỗ thủng thường rộng, bờ nham nhỡ
|
Tiên lượng
|
Thường tốt, ít gây các biến chứng nguy hiểm
|
Ít khi bệnh tự khỏi, thường kéo dài gây giảm sức nghe và có thể gây các biến chứng nặng
|
Theo Y học cổ truyền
Tai là nơi khai khiếu của 17. Thận khí thông ra tai.
-
Kinh thiếu dương 41 và 235 đều vào trong tai, mà 50, 41 là biểu lý tạng
phủ. Vì vậy các bệnh về tai đều phải liên quan đến 50, 41, 235, 17.
-
Các bệnh cấp tính ở tai đều do thực nhiệt ở 50, 41, 235 nên phương pháp
điều trị chung là thanh nhiệt 50, 41, 235. ( ăn rau má, khổ qua, trà
đắng, cải đắng,...
- Các bệnh viêm nhiễm mãn tính thường do hư nhiệt ở 17. Nên phương pháp đều trị chung là bổ thận âm - đỗ đen, lô hội, vịt lộn...
Triệu chứng và hướng điều trị bằng Diện Chẩn
*
Thể cấp tính : Do nhiệt độc xâm phạm vào 50, 41. Bệnh nhân sốt, sợ
lạnh, đau đầu, ù tai, đau trong tai, chảy mủ tai vàng đặc có dính máu.
Điều trị : - Trục thấp ( giải quyết cả tiêu viêm tiêu độc)
- Day 3 lần cách quãng bộ vị sinh huyệt quanh tai + 74, 50, 41, ∆17 + giảm đau
- Hơ ngải trực tiếp lỗ tai + phải chiếu tai trên bàn tay, bàn chân.
* Thể mãn tính : chữa không dứt điểm sẽ chuyển sang thể mãn tính.
50 + Bệnh nhân đau nhúc trong tai, mủ chảy đặc, dính, mùi hôi, lượng nhiều.
- Điều trị : Như thể cấp tính + chế độ ăn - lô hội, rau má, đỗ đen - giảm nhức.
17 + Bệnh nhân thường xuyên ra mủ lỏng, tai ù nghe kém, hoa mắt, chóng mặt, ngủ ít, lưng gối đau mỏi...
- Điều trị : Bộ huyệt trên + bổ âm huyết.
- Hơ ngải cứu trực tiếp lỗ tai + phải chiếu tai trên bàn tay.
37
hư + thường gặp ở trẻ em bị viêm tai giữa mãn tính, chảy mủ loãng kéo
dài, da mặt vàng loãng, ăn kém, chậm tiêu, mệt mỏi, đại tiêun lỏng.
- Điều trị : dán cao bộ vị + 74, 61, 37, 39, 50, 41, 17, 38, 127, 16, 14, 202, 0, 54, 55, 15
- Hàng ngày rửa tai bằng nước muối.
- Làm bột rắc: Phèn phi 16g, xác rắn 4g, băng phiến 0,6g đốt tán nhỏ. Rắc 1lần/ngày.
PHÒNG BỆNH:
1. Điều trị đúng và kịp thời, theo dõi tốt các VTG cấp, nhất là sau các bệnh nhiễm trùng lây
2. Khi bị mạn tính thì phải điều trị tích cực & theo dõi sát để tránh các biến chứng, bảo tồn sức nghe.
3. Chăm sóc tốt và đúng khi bị viêm mũi họng, nạo VA khi có chỉ định để tránh VTG
4. Hướng dẫn và tuyên truyền với các bà mẹ biết chăm sóc và vệ sinh tai- mũi họng cho trẻ
(theo sức khoẻ cộng đồng)
KINH NGHIỆM ĐIỀU TRỊ CỦA PHAN THỊ NGỌC YẾN
- Chữa viêm tai giữa có mủ ( 2 tai)
- Đau tai
I. Kỹ thụât :
+ Dùng dụng cụ : cào to, lăn cầu gai, búa gôm, ngải cứu
+ Phác đồ : day ấn các bộ huyệt sau :
1- Giảm tiết dịch : 0, 16, 61, 287, 179
2- Giảm đau : 16, 58, 60, 61, 19
3- Tiêu viêm : 41, 127, 19, 143
4- Bộ vị : 16, 138, 0, 14, 61, 37, 38, 17
III. Dụng cụ
+ Cào đầu : cào kỹ hai đỉnh tai từ sinh huyệt 139 – 567
+ Búa gôm : gõ xung quanh tai + sinh huyệt 567, 179
+ Ngải : - hơ xung quanh tai + sinh huyệt 567
hơ nếp nhăn cuối cùng của ngón tay trỏ
hơ đốt thứ hai của ngón tay út
hơ mắt cá chân phía ngoài
IV. Chú ý : khi hết ù, hết mủ, hết đau ta dùng kem deepheat chấm huyệt : 16, 138, 0, 14, 15 để chữa dặm đến khi khỏi hẳn.
=====================================
CHỮA VIÊM TAI GIỮA CÓ MỦ BẰNG PHÁC ĐỒ 6 VÙNG PHẢN CHIẾU HỆ BẠCH HUYẾT
Thầy
(TS. Bùi Quốc Châu) dạy con 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết. Công dụng
của nó nhiều lắm, nhiều đến nỗi con không tài nào nhớ hết được. Nhưng
may quá, ít nhất con cũng còn nhớ là nó tiêu viêm tiêu độc rất mạnh, để
ngay hôm sau có dịp đem ra sử dụng và cũng là kiểm tra xem thực tế có
đúng như vậy không…
Đó
là trường hợp đứa cháu họ của con (16 tuổi) mới ở quê vào, bị viêm tai
giữa, đau và chảy mủ liên tục, lúc nào cũng phải bịt bông gòn nơi lỗ
tai, chút xíu lại phải thay bông vì mủ thấm ướt hết. Uống thuốc Tây cả
tuần lễ mà chỉ đỡ đau (nhờ thuốc giảm đau) chứ mủ vẫn chảy không bớt.
Nhớ
lời thầy dạy: 6 vùng chiến thuật tiêu viêm tiêu độc rất mạnh, con áp
dụng ngay, đánh mỗi vùng 40 lần. Con dò thêm sinh huyệt tai ở trán (vùng
huyệt 197) thì tìm được một điểm đau ở ngay đúng huyệt 197, cùng bên
với lỗ tai đau. Day ấn sinh huyệt đó trong 30 tiếng đếm, sau đó đánh
thêm Bộ huyệt tiêu viêm, tiêu độc: 41, 143, 127, 19, 37, 38 (cũng dùng thủ pháp day ấn). Cuối cùng, dán Salonpas lên các huyệt vừa ấn. Xong!
Đánh
buổi tối thì sáng hôm sau cháu báo 10 phần đã đỡ được 9 phần. Trời, con
quá ngạc nhiên, sao lẹ vậy cà? Con làm thêm lần nữa, đến tối cháu lại
báo: nó hết chảy mủ luôn rồi! Quả là thần kỳ vì con biết bệnh này đối
với Tây y việc chữa trị không phải là đơn giản, mà Diện chẩn mình làm
vỏn vẻn chỉ có 2 lần, mỗi lần chưa tới 5 phút.
Con
nghĩ, với 6 vùng chiến thuật, Thầy thực sự đã trao cho chúng con một
bảo bối. Cảm ơn Thầy rất nhiều. Các bạn ơi, bảo bối Thầy trao rồi, chúng
ta hãy mạnh dạn sử dụng, nếu không sẽ uổng phí vô cùng (còn tới hơn 60
công dụng nữa lận). Bảo bối chỉ thực sự là bảo bối khi chúng ta biết
dùng bảo bối.
Trần Thị Thu Thủy
Khóa 112
542/22 Nguyễn Kiệm, P4, QPN
ĐT: 0908550029
Email: thuy.hcmc@yahoo.com
=======================================
CHỮA BỆNH HEN
Tháng 5/2010, Bác Khang ở xã Liên Mạc, huyện Từ liêm có đến nhà tôi và
nhờ tôi chữa bệnh hen. Bác nói đã uống nhiều thuốc Tây, thuốc Đông y,
châm cứu rồi nhưng không khỏi. Bệnh của Bác đã kéo dài hơn 20 năm. Tôi
suy nghĩ: nếu cứ đi theo vết mòn cũ của các phương pháp trước sẽ không
thành công. Bệnh đã lâu thuộc loai hư chứng. Vậy hãy áp dụng môn Diện
chẩn xem sao. Tôi thực hiện như sau:
1. Xoa dầu nóng toàn bộ cột sống, từ c1 đến đốt sống cụt. Dùng tay nắn bóp các đốt sống.
2. Dùng cầu lăn đinh lăn 2 bên thăn lưng để kích thích các hạch thần kinh giao cảm.
3. Hơ ngải cứu vùng phản chiếu phế ở lưng.
4. Dùng
que dò tác động vào tam giác Phế (61, 467, 491 và 61, 432, 565),Thận
(1,45,45) và Tỳ (37,40,481) vì bệnh hen bao giờ tạng Phế cũng bị tổn
thương trước. Theo lý luận của Đông y Phế chủ khí, Thận nạp khí. Khi hít
khí vào Phế nếu Thận yếu thì không thể giữ cho khí được nạp vào cơ thể
tốt nên người ta luôn luôn thiếu dưỡng khí. Mặt khác, Tỳ thổ sinh Phế
kim. Tỳ có mạnh thì Phế mới khỏe được. Chính vì vậy khi chữa bệnh hen,
Đông y luôn chú trọng 3 tạng Tỳ, Phế, Thận.
Sau mỗi lần chữa, bệnh nhân đang lên cơn hen thì cắt được cơn ngay.
Sau
10 lần chữa, sức khỏe bệnh nhân đã khá lên nhiều, tôi dạy bệnh nhân
tập thở dưỡng sinh và ngày củng cố bằng ngày ăn 6 lá cây Lược vàng, nhai
nuốt lấy nước( lá cây Lược vàng hái vào lúc mặt trời chưa mọc).
Đến nay đã 7 tháng trôi qua, sức khỏe của bệnh nhân vẫn tốt. Thật là mừng vui vô hạn. Quả là phúc chủ lộc thầy.
Cám ơn GSTS Bùi Quốc Châu đã sáng lâp ra môn DCĐKLP.
Cám ơn Thầy Quyên, cô Phương đã truyền dạy môn học này.
=================================
các bệnh Tai biến Mạch máu Não - Viêm Gan - Liệt - Thoái hóa Cột sống - Gai cột sống ....
1/ Bệnh nhân NGÔ ĐÌNH TUY 75 tuổi Đ/C Quận Thanh Xuân – Hà Nội:
Tiền sử bệnh:
Bệnh nhân bị viêm Gan đã lâu ngày không chữa khỏi, viêm phế quản mãn và Cao Huyết áp.
BN đã chữa trị tại Bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội, Viện Châm cứu Trung ương nhưng không có kết quả gì..
Triệu chứng:
Tháng
10/ 2008 bị tai biến Mạch máu não lần thứ 2. lưõi rụt, miệng méo, không
nói được, vận động khó khăn, đại tiểu tiện không tự chủ. không tự ăn
được,nuốt khó, chỉ nuốt được vài thìa nước cháo.
Sau
khi được mời tới nhà khám bằng PP Diện chẩn, tôi đã phát hiện bệnh nhân
ngoài những bệnh kể trên còn bị bệnh về Tâm, Tỳ. Phế, Thận.
Điều trị bằng Diện Chẩn
Tôi sử dụng phác đồ điều trị như sau:
+bộ huyệt Hạ huyết áp.
+6 vùng Phản chiếu Hệ Bạch Huyết.
Cùng các biện pháp sau
+Lăn khắp mặt để Quân bình năng lượng.
+
Day ấn các sinh huyệt phản chiếu Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận và. Sinh huyệt
phản chiếu tay, chân ( trên mặt, trên Trán và loa tai).
+Day ấn sinh huyệt phản chiếu vùng lưỡi trên nhân trung, loa tai, và các huỵêt số 79, 14, 275.
+ Lăn Hơ trên ngón tay cái, ngón chân cái.( Đồng ứng với Lưỡi)
Kết quả:
Sau 30 ngày điều trị bệnh nhân bình phục hoàn toàn. các bệnh mãn tính như Tâm,Can, Phế vv… cũng khỏi luôn ./.
2/ Bệnh nhân: NGUYỂN THỊ YẾN: 78 tuổi. Đ/C: Kim Liên, Quận Đống Đa, Hà Nội:
Tiền sử bệnh
Thể trạng mập, BN bị tai biến mạch máu não đã 08 năm, sau khi đã chữa trị nhiều nơi nhưng bệnh không khỏi hoàn toàn.
Triệu chứng:
Khi
được mời tới nhà khám và điều trị tôi nhận thấy: BN bị Cao huyết áp,
miệng méo. Nói khó, thỉnh thoảng cười vô cớ. hẹp van tim, xơ vữa động
mạch. tay trái co rút, chân traí teo nhẹ, toàn bộ hông và chân trái đau
nhức, bàn chân trái bị co gập, tập đi bằng gậy và kéo lết chân.
Điều trị bằng Diện Chẩn
Khám nội tạng: toàn bộ sinh huyệt phản chiếu vùng Tâm, Can, Tỳ, đều đau buốt.
Tôi sử dụng Phác đồ điều trị:
+ Bộ huyệt hạ huyết áp.
+ Bộ 6 vùng phản chiếu hệ bạch huyết.
Cùng các biện pháp:
+ Day ấn các sinh huyệt phản chiếu Tâm, Can, Tỳ. Các Sinh huyệt phản chiếu tay, chân (trên mặt, trên Trán và loa tai).
+
Day phớt điểm đau trên hông, toàn bộ 2 chân. sau đó dùng cây lăn cầu
đôi sừng to, lăn từ trên xuống dưới toàn bộ lưng, cánh tay, chân. ( Lăn
từng đoạn ngắn)
Kết quả:
Sau
điều trị 7 ngày bệnh nhân không còn đau nhức chân, không còn cười vô
cớ. Sau 35 ngày BN hết méo miệng, 2 chân vận động bình thường, tay còn
hơi co.
3/ Bệnh nhân: NÔNG VĂN TIẾN (dân tộc mèo): 04 tuổi.
Đ/c: Huyện Than Uyên, tỉnh
Sơn La.
Sơn La.
Tiền sử bệnh:
Bệnh
nhân thể trạng gầy ốm, đã chữa nhiều nơi như: Viện châm cứu trung ương,
đi Trung Quốc chữa 02 tháng, và nhiều nơi khác nhưng bệnh không hề
giảm.
Triệu chứng:
Bệnh
phát từ lúc 06 tháng tuổi, da tím bầm, 02 tay và chân liệt co rút, lưng
còng ( gù) răng bắt đầu vỡ, rụng, mủn, xỉn đen. Chảy máu lợi. Luỡi rụt
không nói được. đại tiểu tiện nhiều và không tự chủ từ 5 đến 7 lần /
ngày. ăn ngủ kém, thường xuyên kêu khóc, vật vã.
Điều trị bằng Diện Chẩn:
Phác đồ điều trị:
+ Chính nặn hết máu đen, sau 07 ngày điều trị da trắng hồng ngủ ngon, ăn tốt hơn, không còn kêu khóc, vật vã nữa.
+ Tiếp tục Lăn mặt, Lưng, Tay, Chân.
+ Day ấn, dán cao phản chiếu Tay, chân trên (Mặt, trán, loa tai và ngón tay, ngón chân)
+ Day ấn, dán cao phản chiếu lưỡi trên nhân trung, loa tai H 79, 14, 275. Hơ đồng hình lưỡi trên ngón tay cáI, ngón chân cái.
Kết
quả: sau 18 ngày điều trị ( tác động 02 lần / ngày) bệnh nhân nói được,
02 tay, 02 chân không còn co bắt đầu tập đứng, tập đi.
4/ Bệnh nhân Nguyễn Văn Vĩnh 56 tuổi thể trạng trung bình.
Đ/c phố Bạch Mai – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.
Tiền sử bệnh:
Bệnh nhân bị thoái hoá - Gai cột sống cổ, thắt lưng.
Sơ giãn phế quản mãn tính. Sỏi thận. Có tiền sử đau dạ dày
đã chữa trị bằng châm cứu. Đông, Tây y tại bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội.
Bệnh chỉ giảm đau. Sau khi nghỉ điều trị thì lại tái phát như cũ.
Biểu hiện:
BN
thường đau mỏi cổ gáy, thắt lưng. đặc biệt đau nhức dữ dội vai phải và
cánh tay phải. Thường xuyên ho liên tục. viêm mũi dị ứng
Điều trị bằng Diện Chẩn:
Sử
dụng phương pháp Diện chẩn kết hợp với khám lưỡi thấy: thể trạng nóng
nhiệt, môi thâm tím. Rêu lưỡi vàng dầy nhiều chất dịch. Lưỡi có dấu
răng.
Sinh huyệt phản chiếu Tâm,Can, Tỳ, Phế, Thận đều đau buốt.
Phác đồ điều trị:
+ Day ấn bộ huyệt: Trừ đàm thấp thuỷ.
+ Tập trung chữa phế quản trước (day ấn vùng phản chiếu phế quản trên mặt, loa tai), sinh huỵêt vùng đầu mũi, H64 19 19a,b.
+ Day ấn sinh huyệt phản chiếu cột sống trên mũi, Trán, Loa tai, ngón tay, ngón chân.
+ Lăn, gõ trực tiếp cột sống.
Kết quả:
Sau 02 tháng điều trị bệnh nhân đã bình phục, các bệnh phế quản Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận đều khỏi hoàn toàn./.
Kinh nghiệm rút từ các ca bệnh khó thấy nổi lên vấn đề sau:
Khám
xem thể trạng BN Hàn hay Nhiệt. Nếu Hàn thì Hơ ngải cứu, Nhiệt sử dụng
dụng cụ inox hoặc đồng, chườm đá. Bình thường chỉ cần day, ấn sinh
huyệt.
Hỏi
kỹ xem bệnh nhân có tiền sử hoặc đang có bệnh về Phế thì phải chữa Phế
trước. Sau đó mới chữa các bệnh khác thì sẽ cho kết quả nhanh và ổn
định.
Các điểm đau sử dụng thủ pháp day phớt có kết quả rất nhanh./.
===============================================
KINH NGHIỆM CHỮA BỆNH U XƠ VÚ
I. Khái quát bệnh án
Họ và tên : Vũ Nguyên Dính - 59 tuổi
Địa chỉ : Thôn Ngãi Đông, xã Trấn Dương, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng
Nghề nghiệp : Giáo viên (CBCNV Nhà nước)
Phó hiệu trưởng - Trường tiểu học I, Trấn Dương, Vĩnh Bảo, Hải Phòng
Căn bệnh : theo bệnh án khám, xét nghiệm, giải phẫu bệnh sinh thiết tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng.
Kết luận : Phì đại tuyến vú - u xơ vú trái và có chỉ định mổ cắt bỏ u xơ (không có tế bào nghi ngờ).
II. Triệu chứng và thể trạng bệnh nhân khi tới chữa theo phương pháp Diện chẩn.
- Tâm trạng hoang mang, buồn, lo sợ, người mệt mỏi, ăn ngủ kém.
- Da mặt sạm, đặc biệt vùng chung quanh mắt sạm đen nhiều, giảm thị lực, lưỡi đỏ, môi khô, nước tiểu vàng sậm.
- Vú trái to hơn vú phải và cứng rắn, đặc biệt là đầu núm vú, vàng phía dưới vú, đau nhức nhiều.
- Dùng que dò tìm vùng phản chiếu có sinh huyệt báo đau (Sh 73-).
- Đo huyết áp 136/82, nhịp tim 85
III. Pháp đồ điều trị
* Căn cứ vào thể trạng bệnh nhân hiện tại và kết luận của bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng, Tôi lập phương án chữa trị như sau :
1. Dùng pháp đồ quân bình năng lượng để khai thông mọi sự bế tắc của cơ thể, chống suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, tiêu viêm, tiêu độc.
2. Làm mát toàn thân, làm mềm cơ.
3. Tăng cường sức lực và sức đề kháng, an thần.
4. Làm tiêu u tiêu bướu + bộ vị.
* Cách chữa cụ thể :
1. Dùng dầu Bạch Hổ bôi xoa dọc sống lưng từ xương cụt đến đốt sống cổ số 7, Dùng lăn sừng đôi to lăn dọc sống lưng, hai bên thăn lưng 1 phút.
- Hơ sinh huyệt X - A - E - C - F - H, hơ cách mặt da 1cm. Hơ 3 lần - mỗi lần 10 giây.
- Dùng đầu que dò Sao chổi xoay tròn nhẹ sinh huyệt 103, 106, 300 ± (sinh huyệt hưng phấn thần kinh ở trán) xoay 90 vòng cho mỗi sinh huyệt, sau đó hơ nóng mỗi sinh huyệt khoảng 30 giây.
2. Làm mát toàn thân: 26, 3, 38, 29, 14, 16, 143, 180, 8, 85, 87, 70, 45, 300-, 0.
- Làm mềm cơ : 37, 40, 127, 156, 19, 16, 61, 290, 5, 60, 73.
3. Bộ Bổ âm huyết : 22, 127, 63, 7, 113, 17, 19, 50, 39, 37, 1, 290, 0.
- Bộ ổn định thần kinh, an thần : 124, 34, 106, 103.
4. Bộ tiêu u, tiêu bướu, tiêu độc + bộ vị : 41, 143, 127, 19, 38, 37, 73-.
- Lăn toàn mặt, xoay trò 3 vòng cách khoảng 2 vùng ổ mắt, sao đó hơ 3 vòng cách khoảng 2 ổ mắt nhắm lại.
- Hơ các vùng phản chiếu mắt ở bàn chân, tay, ngực, lưng.
- Dùng que dò chấm xung quanh chân u xơ vú trái.
- Xoa dầu Bạch hổ, dùng lăn đinh lăn trên u, cào mini, búa gôm gai tác động gõ trên u.
- Hơ ngải vú phải (đối xứng) sau đó hơ xung quanh vú trái, chân u xơ vú trái xoa day trực tiếp, cào đầu.
Sau lần chữa đầu tiên bệnh nhân thấy người rất thoải mái, nhẹ nhàng và rất phấn khởi và tin vào phương pháp chữa sẽ có hy vọng tốt.
* Hướng dẫn bệnh nhân chú ý : ăn uống, ngủ, nghỉ phải điều độ, vệ sinh khoa học - luyện tập, áp dụng 12 động tác xoa mặt vào buổi sáng và 3 động tác buổi tối.
Bệnh nhân về nhà dùng 01 quả trứng vịt luộc chín khi nóng bóc vỏ + 01 lá đu đủ xanh + 03 lá trầu không, xào nóng. Khi lá đu đủ héo, nóng mềm thì dùng vải bọc thuốc chườm nóng vào vùng có u xơ vú trái. Mỗi tối làm 01 lần, sau đó đắp thuốc tại vùng có u xơ.
Sáng hôm sau bỏ thuốc ra, vệ sinh vết bệnh sạch sẽ.
- Sau 05 lần điều trị, bệnh nhân thấy người khỏe khoắn, ăn ngủ, đi lại tốt hơn, da mặt bớy sạm đen, nước tiểu trong hơn, sờ nắn u xơ thấy mềm đi, bệnh nhân bớt đau nhức vùng u xơ.
Đo huyết áp tim mạch : 130/79 - 75.
Lần làm tiếp theo tôi làm thêm các huyệt : Thận, Gan, Tim, Tỳ, Vị.
- Sau 10 lần, nhân xơ mềm đi, nhỏ lại, hết đau nhức. Bệnh nhân ăn ngủ tốt, tinh thần phấn khởi, tin tưởng chắc chắn sẽ khỏi bệnh. Tôi bỏ các bộ : Ổn định thần kinh, an thần, làm mát. Làm tiếp cá phác đồ trên 05 lần nữa và yêu cầu bệnh nhân làm đúng hướng dẫn của tôi khi về nhà, và đặc biệt là chườm đắp thuốc và dặn nếu có mật gấu tốt thì ngâm rượu uống 1/3 chén nhỏ trước khi đi ngủ buổi tối.
Kết quả : sau 15 lần điều trị, bệnh nhân đã hết u xơ vú (2 vú bình thường như nhau) huyết áp 130/80 mạch 72.
Hiện tại bệnh nhân khỏi hoàn toàn, khỏe mạnh và công tác bình thường, rất phấn khởi và có lời cảm ơn
Trấn Dương, 10 tháng 12 năm 2009
====================================================
I. Khái quát bệnh án
Họ và tên : Vũ Nguyên Dính - 59 tuổi
Địa chỉ : Thôn Ngãi Đông, xã Trấn Dương, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng
Nghề nghiệp : Giáo viên (CBCNV Nhà nước)
Phó hiệu trưởng - Trường tiểu học I, Trấn Dương, Vĩnh Bảo, Hải Phòng
Căn bệnh : theo bệnh án khám, xét nghiệm, giải phẫu bệnh sinh thiết tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng.
Kết luận : Phì đại tuyến vú - u xơ vú trái và có chỉ định mổ cắt bỏ u xơ (không có tế bào nghi ngờ).
II. Triệu chứng và thể trạng bệnh nhân khi tới chữa theo phương pháp Diện chẩn.
- Tâm trạng hoang mang, buồn, lo sợ, người mệt mỏi, ăn ngủ kém.
- Da mặt sạm, đặc biệt vùng chung quanh mắt sạm đen nhiều, giảm thị lực, lưỡi đỏ, môi khô, nước tiểu vàng sậm.
- Vú trái to hơn vú phải và cứng rắn, đặc biệt là đầu núm vú, vàng phía dưới vú, đau nhức nhiều.
- Dùng que dò tìm vùng phản chiếu có sinh huyệt báo đau (Sh 73-).
- Đo huyết áp 136/82, nhịp tim 85
III. Pháp đồ điều trị
* Căn cứ vào thể trạng bệnh nhân hiện tại và kết luận của bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng, Tôi lập phương án chữa trị như sau :
1. Dùng pháp đồ quân bình năng lượng để khai thông mọi sự bế tắc của cơ thể, chống suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, tiêu viêm, tiêu độc.
2. Làm mát toàn thân, làm mềm cơ.
3. Tăng cường sức lực và sức đề kháng, an thần.
4. Làm tiêu u tiêu bướu + bộ vị.
* Cách chữa cụ thể :
1. Dùng dầu Bạch Hổ bôi xoa dọc sống lưng từ xương cụt đến đốt sống cổ số 7, Dùng lăn sừng đôi to lăn dọc sống lưng, hai bên thăn lưng 1 phút.
- Hơ sinh huyệt X - A - E - C - F - H, hơ cách mặt da 1cm. Hơ 3 lần - mỗi lần 10 giây.
- Dùng đầu que dò Sao chổi xoay tròn nhẹ sinh huyệt 103, 106, 300 ± (sinh huyệt hưng phấn thần kinh ở trán) xoay 90 vòng cho mỗi sinh huyệt, sau đó hơ nóng mỗi sinh huyệt khoảng 30 giây.
2. Làm mát toàn thân: 26, 3, 38, 29, 14, 16, 143, 180, 8, 85, 87, 70, 45, 300-, 0.
- Làm mềm cơ : 37, 40, 127, 156, 19, 16, 61, 290, 5, 60, 73.
3. Bộ Bổ âm huyết : 22, 127, 63, 7, 113, 17, 19, 50, 39, 37, 1, 290, 0.
- Bộ ổn định thần kinh, an thần : 124, 34, 106, 103.
4. Bộ tiêu u, tiêu bướu, tiêu độc + bộ vị : 41, 143, 127, 19, 38, 37, 73-.
- Lăn toàn mặt, xoay trò 3 vòng cách khoảng 2 vùng ổ mắt, sao đó hơ 3 vòng cách khoảng 2 ổ mắt nhắm lại.
- Hơ các vùng phản chiếu mắt ở bàn chân, tay, ngực, lưng.
- Dùng que dò chấm xung quanh chân u xơ vú trái.
- Xoa dầu Bạch hổ, dùng lăn đinh lăn trên u, cào mini, búa gôm gai tác động gõ trên u.
- Hơ ngải vú phải (đối xứng) sau đó hơ xung quanh vú trái, chân u xơ vú trái xoa day trực tiếp, cào đầu.
Sau lần chữa đầu tiên bệnh nhân thấy người rất thoải mái, nhẹ nhàng và rất phấn khởi và tin vào phương pháp chữa sẽ có hy vọng tốt.
* Hướng dẫn bệnh nhân chú ý : ăn uống, ngủ, nghỉ phải điều độ, vệ sinh khoa học - luyện tập, áp dụng 12 động tác xoa mặt vào buổi sáng và 3 động tác buổi tối.
Bệnh nhân về nhà dùng 01 quả trứng vịt luộc chín khi nóng bóc vỏ + 01 lá đu đủ xanh + 03 lá trầu không, xào nóng. Khi lá đu đủ héo, nóng mềm thì dùng vải bọc thuốc chườm nóng vào vùng có u xơ vú trái. Mỗi tối làm 01 lần, sau đó đắp thuốc tại vùng có u xơ.
Sáng hôm sau bỏ thuốc ra, vệ sinh vết bệnh sạch sẽ.
- Sau 05 lần điều trị, bệnh nhân thấy người khỏe khoắn, ăn ngủ, đi lại tốt hơn, da mặt bớy sạm đen, nước tiểu trong hơn, sờ nắn u xơ thấy mềm đi, bệnh nhân bớt đau nhức vùng u xơ.
Đo huyết áp tim mạch : 130/79 - 75.
Lần làm tiếp theo tôi làm thêm các huyệt : Thận, Gan, Tim, Tỳ, Vị.
- Sau 10 lần, nhân xơ mềm đi, nhỏ lại, hết đau nhức. Bệnh nhân ăn ngủ tốt, tinh thần phấn khởi, tin tưởng chắc chắn sẽ khỏi bệnh. Tôi bỏ các bộ : Ổn định thần kinh, an thần, làm mát. Làm tiếp cá phác đồ trên 05 lần nữa và yêu cầu bệnh nhân làm đúng hướng dẫn của tôi khi về nhà, và đặc biệt là chườm đắp thuốc và dặn nếu có mật gấu tốt thì ngâm rượu uống 1/3 chén nhỏ trước khi đi ngủ buổi tối.
Kết quả : sau 15 lần điều trị, bệnh nhân đã hết u xơ vú (2 vú bình thường như nhau) huyết áp 130/80 mạch 72.
Hiện tại bệnh nhân khỏi hoàn toàn, khỏe mạnh và công tác bình thường, rất phấn khởi và có lời cảm ơn
Trấn Dương, 10 tháng 12 năm 2009
====================================================
CHỮA THOÁI HÓA CỘT SỐNG
BỆNH NHÂN : NGUYỄN VĂN TÂN 45 tuổi.
ĐỊA CHỈ: 33 Phố Nguyễn Đình Chiểu , Hà nội.
CĂN BỆNH: Đau ngang thắt lưng do thoái hoá.
Triệu chứng: Lưng đau không cúi được, vận động đi lại nằm
ngồi khó khăn, đứng dậy hai tay chống vào gối mới có lực,khi đi lưng còng.
ĐIỀU TRỊ: Lăn, vạch mặt khai thông huyệt đạo toàn thân.
· Vạch, hơ ngải cứu điểm đau sinh huyệt vùng phản chiếu lưng trên da đầu, trán, trước tai, sống tai, sống tay, sống chân.
· Dùng
cây lăn gai inox lăn trực tiếp vào vùng đau, xong đó lấy cây lăn Cầu
đôi sừng lăn tới lăn lui cho da vùng đó nóng lên, chập đôi điếu ngải cứu
hơ cho mềm da, để vùng bị thoái hoá được giải toả, khí huyết lưu thông,
chỗ thoái hoá giảm đau nhức, rồi khỏi hẳn.
· Tăng cường khí huyết dùng huyệt bổ âm huyết:
22 – 127 – 63 – 7 – 50 – 19 – 113 – 17 – 64 – 37 – 1 – 290.
Ổn định thần kinh và tiêu viêm: 34 - 124 - 106 - 103 - 38 - 41 - 61 - 5 - 39
· Huyệt chữa gai đôi, thoái hoá cột sống:
189 - 63 - 45 - 1 - 290 - 175 - 275 - 173 - 156 - 87 -300+ - 21.
Điều
trị 3 lần trong 3 ngày bệnh nhân đi lại nằm ngồi đỡ đau, điều trị tiếp 1
tuần lễ, bệnh nhân đi lại hoạt động bình thường, đi xe máy đến cơ quan
làm việc. Sau 14 ngày bệnh nhân đi công tác xa, khi về cho biết lưng
khỏi đau hoàn toàn, trước kia đi xa thường xuất hiện điểnm đau nhói ở
lưng, lần này đi nhiều đi xa mà không thấy hiện tượng đau nhói. Chứng tỏ
lưng đã chữa khỏi hoàn toàn./.
CHỮA ĐAU BỤNG KINH CHO CHÁU GÁI
Bệnh nhân:
Cháu
gái 24 tuổi. Mỗi lần thấy thì đau bụng dữ dội, quằn quại trong vài giờ.
Bệnh xuất hiện từ năm 12 tuổi, khi thấy lần đầu. Không dám nói với mẹ,
một mình mình chịu !
Khám:
- Đo huyết áp: trái: 90/56, phải: 82/58. Lui kim: 1. Nhịp tim: 75
- Hai bàn tay lạnh.
- Làm việc mau mệt.
Nhận xét: cháu gái bị âm hư
Điều trị: (bát đầu điều trị trước khi thấy 2 tuần)
+ Bước chuẩn bị:
- Cào đầu bằng đôi đũa sừng (vì tóc cháu dày)
- Quẹt (người miền Bắc gọi là vạch) bộ giản cơ thông tắc: 19,1,290,16-,61-,275,14,0.
- Tác động 6 vùng hệ bạch huyết.
Sau bước chẩn bị, mặt cảm giác nóng bừng.
+ Phác đồ điều trị: Điều chỉnh tổng trạng trước, chữa đau bụng sau.
- Quẹt cao (cao Bạch Hổ) bộ thăng khí làm ấm: 127,50,19,37,1,73,189,103,300,0.
- Quẹt cao phác đồ nội tiết tố: 28,8,20,63,7,113,17.
- Quẹt cao phản chiếu tử cung: 53,23,174,61,63,7.
- Nghỉ 5 phút.
- Quẹt cao bộ bổ âm huyết:
22,347,127,63M,17,113,7,63,50,19,39,37,1,290,0.
- Dán Salonpas sinh huyệt 127
Mỗi huyệt quẹt nhẹ 30 lần, huyệt nào lặp lại quẹt 10 lần. Sau một lần
điều trị, người thấy ấm lên, 2 tay cũng ấm lên.
Dụng cụ thao tác là đũa sừng Vinamassage Bùi Quốc Châu, không dùng cây
dò huyệt đầu kim loại vì trời đông lạnh. Tổng thời gian điều trị 40 phút
1 lần. Làm 4 lần cách khoảng trong 1 tuần vì cháu bận đi công tác.
Kết quả:
Đến
kì, không còn đau quằn quại như trước, bụng chỉ còn hơi lâm râm. Cháu
rất phấn khởi. Ông cháu hẹn sẽ làm tiếp cho đến hết hẵn.
Ghi chú: 63M: ngang huyệt 63, trên tuyến M, huyệt này do Thầy Minh tìm ra.
(xem trên bản đồ huyệt ở mục BỘ HUYỆT THƯỜNG DÙNG)
xem thêm :
http://dienchanhanoi-kndtr.blogspot.com/













































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét