Đàm, thấp và thủy là ba tác nhân gây bệnh
thường có mặt trong nhiều loại bệnh chứng khác nhau. Chúng thường quấy rối cơ
thể bịnh nhân và gây trở ngại cho việc trị bịnh chính cho bịnh nhân.
Kỷ thuật Có 3 phác đồ dùng cho 3 mức độ bệnh khác nhau từ nhẹ tới nặng.
Lọc thấp là dùng cho trường hợp thấp nhẹ, trừ thấp được dùng cho mức độ thấp
trung bình, trục thấp là trường hợp thấp nặng.
1. Bộ Lọc thấp
2.Bộ Trừ thấp
3.Bộ Trục thấp: tác động trọn ụ
cằm; bờ môi dưới; bờ môi trên và cánh mũi (giới hạn bởi pháp lệnh), toàn bộ
mũi kéo dài lên vùng huyệt 103-175. Phác đồ này được dùng khi cần trục đàm thấp
thủy thật mạnh.
Về mức độ bệnh Thấp Thủy cần điều trị nhiều mới có kinh nghiệm phán
đoán. Nếu chưa kinh nghiệm các bạn có thể dùng phác đồ lọc thấp trước, nếu
không hiệu quả mới tăng dần theo các phác đồ sau.
Chú ý:
1. Cần chẩn đoán về hàn nhiệt trước khi điều trị.
2.Rất ít khi phải dùng trọn bộ huyệt nêu trên.
3.Dò sinh huyệt trước khi tác động.
4.Sử dụng que dò có dầu cao trước, nếu không có tác dụng mới sử dụng ngải
cứu trong những trường hợp bệnh thuộc hàn.
5.Nếu xử dụng que dò thì day mỗi huyệt chừng 30 cái với vaseline khi bịnh
thuộc nhiệt, với dầu cao khi bịnh thuộc hàn.
6.Dán cao khi bịnh thuộc thấp-thủy nặng (thường thuộc hàn chứng).
7.Nếu xử dụng ngải cứu thì hơ nóng mỗi huyệt 3 lần rồi xoa dầu cao vào
huyệt, khi bịnh thuộc hàn nặng.
8.Mỗi lần điều trị cần xem xét lại trước khi dùng, đề phòng sự quá liều
rất dễ xảy ra.
Một hay các hiện tượng sau đây sẽ xảy ra
khi chẩn đoán đúng và điều trị đúng mức độ:
1. Bịnh chứng thuyên giảm rõ rệt.
2. Bịnh nhân có thể đột ngột đi tiêu lỏng, sệt hoặc có đàm nhớt lẫn
trong phân. Có thể đau bụng hoặc không, nhưng không quá 5 lần trong một ngày
đêm, càng đi tiêu càng thấy người thoải mái chứ không mệt như các trường hợp đi
tiêu lỏng khác.
3.Bịnh nhân có thể khát nước hơn, nên uống ngay nước ấm hay đun sôi để
nguội (không nên uống nước ướp lạnh hay nước đá) và uống từ từ chứ không uống
nhanh. Khi cảm thấy hết khát thì ngưng ngay chứ không uống cho hết nước đã rót
ra ly. Tình trạng này có khi do tác động quá liều, do đó cần hỏi kỹ để ngưng kịp
thời, tránh tác dụng xấu.
4. Bịnh nhân có thể thấy choáng váng một lúc rồi tự hết, sau khi điều trị
về. Đây là hiện tượng tốt.
5. Bịnh nhân có thể thấy cơ bắp toàn thân rần rần như có cái gì chạy nhè
nhẹ; rõ nhất ở vùng bụng dưới và hai chân. Có thể hai chân bỗng tê rần, mỏi nhừ
hoặc yếu sức hoặc đau nhức (trước đây không có hoặc quá nhẹ); nhất là khi bịnh
nhân đang có bịnh thuộc vùng bụng dưới thắt lưng hay vùng chân.
6. Bịnh nhân có thể bỗng bị nổi mụn ngứa (giống như bị dị ứng), cứ yên
tâm vì khoảng ba ngày đến hai tuần sau sẽ tự hết tùy nhẹ hay nặng. Đây là sự giải
độc.
Lưu ý: khi bịnh nhân có một trong các
hiện tượng sau đây là ta đã chẩn trị sai hoặc tác động quá liều về huyệt hay về
kỹ thuật.
Bịnh nhân bỗng cảm thấy chán ăn hơn trước.
Bịnh nhân bị nóng người, khô người, khát nước, uống nước thấy ngon uống
thật nhiều mới thấy hết khát, người thấy mệt (không phải mỏi), hồi hộp tim, khó
ngủ.
Nên dùng nước dừa, dưa hấu hoặc thanh long kèm với Bộ bổ âm huyết để điền
lại huyết dịch cho bịnh nhân.
Tác dụng - chủ trị: Loại trừ
đàm, thấp và nước ứ đọng trong cơ thể bịnh nhân.
1. Giải quyết tất cả các bịnh do đàm ẩm
gây ra; dứt điểm hoặc hỗ trợ cho các phương hướng điều trị khác. Tuy nhiên,
giữ gìn và phục hồi chính khí của bịnh nhân là việc cần chú ý trước và sau khi
dùng nó.
2.
Có thể dùng để điều trị các bịnh thường gặp như: ho đàm, thủy thũng,
thấp khớp, trúng nước nặng (khi BỘ THĂNG tỏ ra kém hiệu quả), huyết trắng không
có yếu tố nhiễm trùng, béo phì bịnh lý (mập nước), đại tiện phân nhão thường
xuyên, ăn kém lâu ngày mà các loại thuốc bổ không có tác dụng (vì đàm thấp ứ đọng
cản trở sự hấp thu của cơ thể).
Chống chỉ định: Cũng như các
phương án điều trị có tính tấn công khác, không nên dùng bộ huyệt này cho các bịnh
nhân suy nhược, suy tim, to tim. Tuy nhiên khi đàm thấp thủy là nguyên nhân gây
bịnh thì rõ ràng phải trừ gấp để lập lại sự lưu lợi cho các tuyến sinh lý cơ thể,
nếu không sẽ rất khó giải quyết các bịnh chứng liên quan (trường hợp này phải rất
cẩn thận khi dùng).
Tránh tái nhiễm thủy ẩm suốt thời gian điều trị và sau khi điều trị xong
khoảng ba tháng.
Về sinh hoạt, kiêng cữ các hoạt động sau đây: tắm ban đêm, tắm nước
nóng mà lâu (nên tắm nhanh), uống nước nhanh (nên uống từ tốn), tiếp xúc với nước
nhiều, nằm ngủ dưới đất, tiếp xúc với sức nóng nhiều và lâu.
Về ăn uống: cữ dùng các thứ
quá mát hoặc lạnh, các thứ có chất nhớt như đậu bắp, mồng tơi, rau đay,
khoai mỡ, sữa đặc, lòng trắng trứng… Các loại cà, măng và các thức chua kể cả
các loại mứt làm từ thức chua như mứt me, mứt dâu v.v... Các món này có vẻ
nghịch lý với Tây y nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy là phải cữ !??
Kết luận:
Có thể là do ăn uống sai phép dưỡng sinh mà tạo ra bất ngờ. Nhưng thông
thường Đàm Thấp Thủy là những sản phẩm được tạo ra khi có một trục trặc sinh lý
nào đó. Tuy vậy bịnh nhân không chú ý vì quá trình tạo lập thường chậm chạp từng
chút một cho đến khi đủ cường độ thì mới gây tác hại. Vì vậy ít ai cảnh giác
mà có khi còn cho là sự tự nhiên của cơ thể! Do đó họ không kể ra khi khai bịnh.
Tuy là một sản phẩm có vẻ bình thường (dưới mắt bịnh nhân) nhưng chính
chúng là tác nhân gây bệnh và cản trở việc điều trị bịnh chính. Việc điều bổ chỉnh
đốn sinh lý cơ thể cho bịnh nhân là mục tiêu tối hậu, nhưng nếu không trừ chúng
đi trước thì có khi cũng khó đạt mục tiêu tốt đẹp này.
Vì là một phương pháp tấn công nên khi dùng bộ huyệt này chúng ta cần
theo dõi kỹ lưỡng diễn tiến lâm sàng để linh hoạt điều chỉnh mức độ điều trị
cho thích hợp; để tấn công đúng lúc, dừng lại đúng lúc và bồi bổ (bằng Bộ bổ âm
huyết hoặc Bộ Bổ trung) đúng lúc hầu đạt hiệu quả tốt. Muốn thế xin quý vị lưu
ý phần I và II của bài này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét