Trạng thái sinh lý, bệnh lý đường tiêu
hóa từ xa xưa đã được y học cổ truyền (YHCT) lưu tâm nghiên cứu. Trong hệ thống
cấu trúc - chức năng (ngũ tạng lục phủ) của cơ thể mà YHCT gọi là tạng tượng, tỳ
vị là 2 cơ quan có nhiều điểm gần gũi với hệ thống đường tiêu hóa của y học hiện
đại (YHHĐ).
Vị được sách cổ mô tả là một cơ quan rỗng,
trên tiếp với thực quản, dưới thông với tiểu trường, miệng trên gọi là "bí
môn", miệng dưới gọi là "u môn", bí môn còn gọi là "thượng
quản", u môn còn gọi là "hạ quản", cả ba vùng gọi là "vị quản".
Thức ăn từ miệng qua thực quản rồi vào vị, được vị làm chín nhừ, cho nên vị gọi
là "đại thượng", là cái kho lớn, cái "bể chứa đồ ăn".
Tỳ là một cơ quan đặc nằm bên trái của vị
có chức năng hấp thu và vận chuyển chất dinh dưỡng, YHCT gọi là có công năng vận
hóa. Tỳ và vị hợp tác với nhau để hoàn thành chức năng tiêu hóa, hấp thu thức
ăn và chuyển vận chất dinh dưỡng. Tỳ vị được quy nạp theo hành "Thổ"
trong hệ thống ngũ hành (mộc, hỏa, thổ, kim, thủy) của triết học cổ đại phương
đông. "Thổ" là mẹ đẻ ra vạn vật cũng giống như tỳ vị có chức năng hấp
thu, chuyển vận chất dinh dưỡng để nuôi các bộ phận khác trong cơ thể. Vì vậy,
vai trò của tỳ vị trong hệ thống tạng tượng của YHCT là đặc biệt quan trọng.
Trong lịch sử của YHCT, nhiều y gia đã rất
chú trọng vào tỳ vị khi chữa bệnh, dần dần hình thành một trường phái học thuật
nổi tiếng gọi là trường phái "bổ thổ" với học thuyết "tỳ vị"
mà đại diện lỗi lạc nhất là Lý Cảo hay còn gọi là Lý Đông Viên (1180-1251). Ông
là một trong 4 danh y đời Kim, Nguyên ở Trung Quốc, là người đặt cơ sở cho học
thuyết "tỳ vị" của YHCT. Trên cơ sở nhận xét "hữu vị khí tắc
sinh, vô vị khí tắc tử (còn vị khí thì sống, mất vị khí thì chết) của sách Nội
Kinh, ông cho rằng trong ngũ tạng lục phủ tỳ vị là tối quan trọng đối với hoạt
động sinh lý của cơ thể, từ đó ông đề xuất chủ trương "nội thương tỳ vị,
bách bệnh do sinh" (trăm bệnh đều do tỳ vị bị tổn thương), đồng thời ông
viết cuốn "Tỳ vị luận" để truyền bá học thuyết của mình. Tư tưởng chủ
đạo của ông là "Thổ vi vạn vật chi mẫu, tỳ vị sinh hóa chi nguyên" (đất
là mẹ của vạn vật, tỳ vị là gốc của sinh hóa). Vì vậy, khi trị bệnh ông chủ
trương "ôn bổ tỳ vị" và đã sáng chế ra phương thuốc trứ danh "bổ
trung ích khí thang" còn lưu truyền đến ngày nay. Học thuyết tỳ vị có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của YHCT.
Vậy thì tỳ và vị trong tạng tượng học của
YHCT có phải là lá lách và dạ dày trong giải phẫu học của YHHĐ? Trên thực tế,
những kiến thức về giải phẫu đã được đề cập rất sớm trong các y thư cổ như
"Tố vấn" "Linh khu". Hải Thượng Lãn Ông trong sách "Y
gia quân miện" đã chép rất nhiều kiến thức nói về giải phẫu cơ thể con người
được gọi là "nội cảnh đồ". Thế nhưng học thuyết "tạng tượng"
lại không hoàn toàn dựa vào giải phẫu học, nó là một học thuyết được xây dựng dựa
trên 2 quan điểm lớn của YHCT là "nhân thể là một chỉnh thể" (cơ thể
con người là một thể thống nhất). Theo các quan điểm này, YHCT cho rằng việc
tách riêng rẽ từng cơ quan bộ phận trong cơ thể là khiên cưỡng, không đúng vì
nó không thể tồn tại độc lập với các cơ quan bộ phận khác của toàn thân và dù
có đứng ở vị trí này hay vị trí khác của từng bộ phận cũng phải luôn luôn có
cái nhìn tổng thể. YHCT không phân chia giải phẫu học và sinh lý học thành hai
bộ phận riêng lẻ mà kết hợp chúng thành một bộ phận giải phẫu sinh lý học gọi
là tạng tượng.
Như vậy, nội dung của tạng tượng học bao
gồm hai phần: một là các cơ quan bộ phận hợp thành hệ thống; hai là các chức
năng của chúng. Cả hai hợp thành hệ thống cấu trúc - chức năng và qua sự kết hợp
đó nảy sinh ra các chức năng lớn của cơ thể. Nói đến giải phẫu học trong tạng
tượng học, YHCT không phân chia thành từng bộ máy như trong YHHĐ mà kết hợp tất
cả các cơ quan bộ phận cùng thực hiện những chức năng nhất định thành những hệ
thống. Tạng tượng học không phải là giải phẫu học, mặc dù bản thân nó có hàm chứa
nội dung của giải phẫu học.
Bởi thế, theo học thuyết tạng tượng của
YHCT, tỳ và vị không phải là lách và dạ dày trong giải phẫu học của YHHĐ. Có thể
hiểu chúng chỉ là 2 cái tên dùng để chỉ 2 hệ thống cấu trúc - chức năng của cơ
thể trong mối liên hệ hữu cơ với các hệ thống khác. Từ đó có thể thấy chức năng
của từng bộ máy giải phẫu như hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn... không lệ thuộc duy
nhất vào một tạng tượng nào, trái lại chức năng của tất cả các tạng tượng đều
góp phần thực hiện chức năng của các bộ máy trên. Ví dụ: chức năng tiêu hóa của
bộ máy tiêu hóa cần phải có vị để thu nạp làm ngấu nhừ thức ăn, có tỳ dễ hấp
thu, chuyển vận, có đại trường để truyền tống chất cặn bã, có tâm để cung cấp
nhiệt, có thận để dự trữ.. Như vậy, toàn thân chứ không phải từng tạng tượng
cùng phối hợp thống nhất thực hiện các chức năng của mọi bộ máy giải phẫu học.
Tuy nhiên, cho đến nay nhiều tài liệu
YHCT cũng như trong nhận thức của nhiều thầy thuốc YHHĐ vẫn tồn tại một sự ngộ
nhận cho rằng, tạng tượng học trong YHCT giống như giải phẫu học trong YHHĐ. Từ
đó, họ không thể hiểu một cách chính xác nội dung tạng tượng học, thậm chí coi
đó là giải phẫu học thô sơ, thiếu sót, nhiều sai lầm do khả năng nghiên cứu có
giới hạn nhất định của các thời đại trước. Và nếu như vậy thì cần gì phải học tập
thừa kế vì đã có giải phẫu học hiện đại rất tinh vi, đầy đủ, chính xác. Lẽ
đương nhiên, phải thừa nhận rằng học thuyết tạng tượng quả thật là độc đáo
nhưng khi đi sâu vào các cấu trúc của tạng tượng thì vẫn dừng lại ở trực quan,
thiếu rất nhiều chi tiết về giải phẫu học, tế bào học, sinh lý, sinh hóa để đào
sâu vào cơ sở vật chất và quá trình vận động của chúng trong từng tạng tượng. Bởi
vậy, chủ trương kết hợp YHHĐ với YHCT để làm phong phú thêm nội dung của học
thuyết tạng tượng là một điều rất cần thiết.
Tác dụng kỳ diệu của các cơ quan “thừa”
Một số bộ phận trên cơ thể bị gọi là “các
cơ quan thừa” (vì đã thoái hoá) như ruột thừa, lá lách, các tĩnh mạch thừa…
mà chúng ta thường cho rằng chúng không có tác dụng.
Tuy nhiên theo báo Ấn Độ, một nghiên cứu
mới đã phát hiện, các bộ phận tưởng như không có tác dụng này thực ra rất có
ích, chúng bị cắt bỏ một cách tuỳ tiện là do giới y học chưa nhận thức đầy đủ
chức năng của chúng.
Lá lách là bộ phận nằm sau bụng phía bên
trái có tác dụng phát hiện những viêm nhiễm, lọc các chất có hại trong hồng cầu.
Lá lách thường bị coi là bộ phận không có chức năng gì đối với cơ thể, tuy
nhiên, thí nghiệm trên cơ thể chuột cho thấy, lá lách có tác dụng hồi phục lại
các tổ chức trên cơ thể.
|
|
|
|
Ví dụ như người bị bệnh tim, nhiệm vụ
khôi phục lại các tổ chức ở tim hoàn toàn phụ thuộc vào các đơn bào. Các đơn
bào này giống như những bạch cầu, chỉ tạo ra tuỷ và tồn tại ở trong máu.
Philip Wkarpinski Giám đốc Bệnh viện
Massachusetts (Mỹ) cho biết, qua thí nghiệm trên chuột cho thấy, sau khi bệnh
tim ở chuột phát tác, có 40%-50% đơn bào hữu ích kia do lá lách sinh ra. Và khi
tiến hành cắt bỏ lá lách thì số lượng các đơn bào này giảm hẳn.
Ruột “thừa” cũng là vô cùng quan
trọng. Các nghiên cứu cho biết, ruột thừa có tác dụng hỗ trợ các vi khuẩn tiêu
hoá thức ăn. Bill Parker - bác sĩ ngoại khoa Trường Đại học Duke (Mỹ) cho biết,
khi chúng ta bị tiêu chảy, ruột thừa sẽ cung cấp các vi khuẩn giúp khôi phục lại
chức năng của đường ruột.
Một hệ thống mạch máu "thừa”
cũng vô cùng quan trọng. Đó là vòng tuần hoàn phụ. Trong cơ thể người ngoài hệ
thống động mạch tĩnh mạch thông với nhau, giữa các động mạch với động mạch,
tĩnh mạch với tĩnh mạch thậm chí cả động mạch và tĩnh mạch còn hình thành đường
nối liền các mạch máu.
Có thể nói vòng tuần hoàn phụ có tác dụng
bảo đảm cơ chế bổ sung máu cho cơ thể, khi hệ mạch máu chính có vấn đề, vòng tuần
hoàn phụ sẽ phát huy tác dụng. Nhưng trong quá trình tiến hoá, vòng tuần hoàn
phụ bị teo lại, những bộ phận cần vòng tuần hoàn này lại không có (như não và
tim), còn những bộ phận không cần đến nó lại có (như khuỷu tay, đầu gối, vai).
Nếu não và tim đều có vòng tuần hoàn phụ
này thì những triệu chứng như đột quỵ hay các vấn đề liên quan đến tim mạch sẽ dễ
dàng được giải quyết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét