Bộ vị là những vấn đề quan trọng trong
Diện tướng học. Vậy Bộ vị là gì? Bộ vị có ý nghĩa như thế nào trong việc đoán định
tính cách, những biến cố xảy ra cho cuộc đời...?
Bộ vị trong tướng pháp
Trong Diện tướng học, để dễ quan sát và
đoán định tính cách, số phận của mỗi cá nhân, người ta thường chia khuôn mặt
thành các bộ phận nhỏ, gọi là những Bộ vị. Theo truyền thuyết thì từ đời nhà
Đông Chu bên Trung Hoa (cách đây khoảng hơn 2500 năm) khuôn mặt được chia thành
13 bộ vị. Đến thời nhà Hán thì các bộ vị trên được phân thành 120 bộ vị nhỏ
hơn. Sang đến đời nhà Đường và nhà Tống, tổng số bộ vị trên khuôn mặt là 130.
Các nhà tướng học như Nhất Hạnh Thiền sư đời Tống đều ghi lại trong sách tướng
của mình con số 130. Đời sau phần lớn đều theo số 130 của Ma Y. Đến hai đời
Minh, Thanh con số đó tăng lên 140. Nhưng bất kể 120, 130 hay 140 ta cần biết
13 Bộ vị chính yếu là đủ để quan sát khí sắc, mệnh vận cát hung của một cá
nhân.
Như đã đề cập trong bài Tam đình, khuôn
mặt con người có thể chia thành 3 phần là Thượng đình, Trung đình và Hạ đình. Vị
trí của 13 Bộ vị này cũng được chia làm 3 phần như với Tam đình. Theo đó các Bộ
vị thuộc Thượng đình gồm có Thiên trung, Thiên đình, Tư không, Trung chính. Các
Bộ vị thuộc Trung đình gồm có Ấn đường, Sơn căn, Niên thượng, Thọ thượng, Chuẩn
đầu. Còn Nhân trung, Thuỷ tinh, Thừa tướng, Địa các thuộc về Hạ đình.
Qua việc quan sát các Bộ vị chính yếu
này, ta có thể biết được chi tiết những biến cố xảy ra cho cuộc đời của một cá
nhân liên quan đến nhiều lĩnh vực như tật bệnh, tài lộc, anh em, vợ con…
Vị trí và ý nghĩa cơ bản của 13 Bộ vị quan trọng
Thiên trung là vị trí nằm sát chân tóc,
chỗ cao nhất của trán, được coi là tốt đẹp nếu đầy đặn, sáng sủa, cho biết dấu
hiệu thuở nhỏ vận số tốt, cha mẹ song toàn, thân thể khoẻ mạnh. Ngược lại Thiên
trung thấp, lõm, lệch lạc cho thấy tuổi ấu thơ không được tốt đẹp, hoàn cảnh
sinh sống khó khăn chật vật. Nếu như Thiên trung có khí sắc hắc ám, thì đó là
triệu chứng trong đời khó thoát tai ương đột ngột, sinh kế phần lớn khó thành.
Thiên đình là phần nằm giữa trán tiếp liền
dưới Thiên trung. Cách quan sát và cả ý nghĩa cũng tương tự như Thiên trung về
mặt vận mệnh cá nhân. Điều hơi khác là Thiên trung chủ về cha, còn Thiên đình
chủ về mẹ. Nếu Thiên đình khí sắc hắc hám, thêm vào đó là hình thể khuyết hãm
thì sẽ chủ về cảnh cơ khổ ở thời thiếu niên mà phần lớn do mẹ gây ra hoặc không
được quý nhân phù trợ, do đàn bà cản trở.
Tư không là nơi nằm dưới Thiên đình.
Trong khi Thiên trung và Thiên đình liên quan tới cha mẹ, thì Tư không nặng về
ý nghĩa bản thân. Nếu Tư không khuyết hãm hoặc khí sắc xấu xuất hiện thường
xuyên, thì bản thân hay gặp trắc trở trong công việc, không được phụ huynh hay
quý nhân giúp đỡ. Ngược lại Tư không sáng sủa, đầy đặn có khí thế mạnh mẽ thì
đó là dấu hiệu bản thân khi làm việc dễ được người giúp đỡ.
Trung chính là vị trí nằm dưới Tư không.
Nếu khu vực này đầy đặn, sắc hồng lạt hoặc vàng, sáng sủa thì chủ về thành đạt,
thông minh tài trí, mạnh khoẻ, ít tật bệnh hiểm nghèo. Nếu thấp, khuyết chủ về
ngu độn, bất tài. Nếu chỗ này bị vết hằn, sẹo tự nhiên, nốt ruồi thì dễ đưa đến
việc bị người đời ghét bỏ, có tinh nóng nảy, ngông cuồng.
Ấn đường nằm giữa hai đầu lông mày. Bộ vị
này rất quan trọng về phương diện vận mệnh theo cách nhìn của tướng học Á Đông.
Nếu Ấn đường rộng rãi, nẩy nở là tốt về hình thức, còn hồng nhuận là tốt về thực
chất. Người như vậy mưu sự dễ thành. Trái lại, Ấn đường hẹp hoặc khuyết hãm là
xấu, thường muộn con, lấy vợ chậm. Đặc biệt tối kỵ là hai đầu lông mày giao tiếp
nhau ở ngay trên Ấn đường tạo thành một vệt đen chạy dài từ phía mặt phải sang
mặt trái. Người có tướng như vậy không mong gì giàu sang. Ấn đường có nốt ruồi ở
2 bên phải và trái chủ về tù tội.
Sơn Căn là phần lõm trên mũi, giữa hai đầu
mắt. Được coi như nơi giao tiếp giữa trời và người, giữa âm và dương, cho nên
Sơn căn tốt cần phải cao, thẳng, ngay ngắn. Hơn nữa, mũi là dấu hiệu quan trọng
nhất của sự giàu sang, nếu Sơn căn tốt thì mũi cũng tốt theo và đưa đến tài vận
hanh thông. Còn nếu Sơn căn lệch, nhọn hoặc nhỏ thì sẽ khiến cả phần còn lại của
mũi bị ám hại. Nếu Sơn căn có màu xám như tàn tro thì đó là dấu hiệu báo trước
của tật bệnh. Nếu khí sắc đó lan cả xuống sống mũi và xuống sát phần tiếp giáp
với 2 đầu mắt thì bệnh càng nặng và có thể bị chết. Nốt ruồi ở ngay Sơn căn báo
hiệu cuộc đời bôn tẩu tha hương, hoặc là dấu hiệu tai hoạ tù ngục nếu nốt ruồi
mọc chính giữa, còn mọc ở hai bên phải và trái cho biết trong mình có ác tật.
Niên thượng là phần thân mũi ở ngay dưới
Sơn căn và chiếm khoảng ¼ chiều dài của mũi đo từ khoảng giữa 2 mặt tới chóp
mũi. Niên thượng có sắc ám đen như sương mù, chỉ về người thân có bệnh. Niên
thượng có nốt ruồi chủ về vận kiếp có số đào hoa.
Thọ thượng là phần sống mũi tận cùng ở
tiếp dưới ngay Niên thượng. Nếu phần này có xương hoặc sụn nổi cao là dấu hiệu
trong đời thể nào thế nào cũng có phen thất bại nặng nề. Về nốt ruồi và khí sắc,
cách luận giải tương tự như phần nói về Niên thượng, cả ý nghĩa cũng vậy. Tuy
nhiên, nếu hai bên của Thọ thượng có khí sắc hồng lạt hoặc vàng và tất cả tươi
mịn, dễ coi thì đó là dấu hiệu đủ ăn đủ mặc (với điều kiện là mũi tốt).
Chuẩn đầu là phần chóp mũi. Chuẩn đầu lớn,
tròn trịa và có thịt thì tốt, tối kỵ là trơ xương. Tuy nhiên nếu chỉ tốt về
hình dạng mà sắc da ở chuẩn đầu khô mốc, ám đen thì dấu hiệu bệnh tật hoặc hao
phá về tiền bạc, nặng nhẹ tuỳ từng trường hợp. Ngoài ra, về tài vận, nếu Chuẩn
đầu nhiều thịt mập mạp nhưng lỗ mũi quá rộng, hếch lên trời, hai cánh mũi quá mỏng
và ở cao hơn vị trí của Chuẩn đầu thì cũng là tướng hao tài hoặc hữu danh vô thực
về tiền bạc.
Nhân trung là rãnh chạy từ dưới Chuẩn đầu
xương tiếp giáp với môi trên. Nhân trung tốt khi sâu, rõ ràng, dài, ngay ngắn,
trên nhỏ dưới rộng và đặc biệt là không có nốt ruồi hay các đường ngay cắt tự
nhiên làm đứt đoạn. Người như thế ngay thẳng và sống thọ, con cháu đầy nhà.
Nhân trung ngắn, hẹp và nông là người có sức khoẻ yếu, cuộc đời có nhiều bước
thăng trầm. Nhân trung nếu phẳng lỳ như không, là tướng cùng khổ đến già, tuyệt
tự.
Thuỷ tinh là một thuật ngữ chỉ về môi miệng.
Miệng có góc cạnh rõ ràng, mở to, khép nhỏ, môi trên có vân, 2 môi cân xứng, sắc
môi hồng nhuận, Nhân trung có hình tam giác là tướng miệng tốt nhất. Đây là người
thông minh, nhân hậu, tài năng hơn người, thành công trong sự nghiệp. Miệng nói
cười không hở răng là tướng người phú quý. Miệng nhỏ, nhọn, môi thâm đen, chủ
nhân cả đời nghèo khó.
Thừa tương là chỗ hơi lõm dưới môi dưới
và trên Đại các. Ở một số người bộ phận này có thể nhô lên cao hoặc thẳng tắp.
Trong những trường hợp như vậy hoặc quá hõm đều là hung tướng, hay bị tai ương
sông nước hay ẩm thực. Nếu khu vực này xám tro hoặc đen thì lại càng dễ gặp phải
tai ương.
Đại các là phần tận cùng của khuôn mặt,
thường gọi chung là cằm. Cằm chủ yếu phải nẩy nở, cân xứng, không lẹm, không nhọn,
không đưa lên cao. Đại các quá ngắn chủ về yểu thọ. Quả nhọn và dài chủ về sống
lâu nhưng về già lênh đênh cô độc. Đại các có nốt ruồi hay lằn vạch tự nhiên do
da mặt xếp lại thì không được thừa hưởng di sản của tiền nhân để lại, dù rằng
có cân xứng và đầy đặn.
13 BỘ VỊ CHÍNH
- Thượng đình gồm 4 bộ vị chính:
+ Thiên trung
+ Thiên đình
+ Tư không
+ Trung chính
- Trung đình bao gồm:
+ Ấn đường
+ Sơn căn
+ Niên thượng
+ Thọ thượng
+ Chuẩn đầu
- Hạ đình bao gồm:
+ Nhân trung
+ Thủy tinh
+ Thừa tương
+ Địa các
THƯỢNG ĐÌNH: 4 bộ vị của Thượng đình chia đều các khoảng bằng nhau:
1. Thiên trung:
Vị trí nằm sát chân tóc, chỗ cao nhất của trán. Nếu bộ vị này tròn, nở
đều, đầy đặn, bằng phẳng, không bị lệch hoặc bị khuyết hãm thì thiếu
niên tốt, được hưởng phúc phận của gia đình, được bố mẹ chiều chuộng,
môi trường gia đình anh chị em tốt
Thiên trung là cha, nếu tốt là hợp với cha, cha tạo dựng được sự nghiệp cho con.
Thiên
trung khuyết hãm: có nốt ruồi tử khí (nốt ruồi chết - nốt ruồi sát da,
không nổi lên khỏi mặt da, màu nâu hoặc vàng), khí sắc hãm khác màu da
với xung quanh, thiên trung lõm lệch thì thiếu thời khắc cha (đây là yếu
tố xét khắc cha hay khắc mẹ), có thể cha mất sớm hay bố mẹ bỏ nhau. Lưu
ý đây là điều kiện tiên quyết khi xét mối quan hệ với cha nhưng còn cần
phải xét thêm cung Phụ mẫu.
Nốt ruồi sinh khí là nốt ruồi màu đen bóng, nổi lên khỏi mặt da.
2. Thiên đình: Vị trí nằm sát Thiên trung.
Thành:
sáng sủa, nở đều, khí sắc thanh nhã, càng sáng hơn các bộ vị khác càng
tốt ( nhưng ngược lại nếu trán cao bóng quá,bóng lừ lên thì lại hỏng).
Thiên
đình chủ mẹ, nếu tốt thì thiếu thời được hưởng sự nuôi dưỡng quan tâm
của mẹ, cha mẹ hòa hợp. Xét Thiên đình và Thiên trung và cung Phụ mẫu có
thể xét ai là chủ trong gia đình.
3. Tư không: Dưới Thiên đình.
4. Trung chính: (khi cung quan gọi là chính trung).
2 cung này ý nghĩa giống nhau.
Thành: cao tròn, nảy nở → Sinh ra là người có trí tuệ, rất thông minh, trong cuộc đời trẻ thì
được nhiều bậc quý nhân phương trưởng giúp đỡ → đường quan lộ phát triển.
Nếu 2 bộ vị này bị khuyết hãm, lõm lệch thì là người hạn chế về tư duy. Nếu có nốt ruồi tử
khí thì hay bị mọi người ghét bỏ xa lánh vì tính ngông cuồng, nóng nảy, lập dị.
TRUNG ĐÌNH:
5. Ấn đường: Vị trí nằm giữa 2 đầu lông mày.
Thành: cao đầy đặn, sáng sủa , nảy nở, rộng, 2 đầu lông mày phải xa nhau thì đường đời khả quan,cuộc sống ít khi bị khúc mắc, năm sau tốt hơn năm trước.
Là cung mệnh của con người ta nên nếu lệch, thấp hãm là người suốt đời vất vả, thành bại thất thường.
Nếu
bên phải hay bên trái ấn đường có nốt ruồi thì hay bị vướng vào vòng tù
tội (đây phải hiểu tù tội theo nghĩa rộng; có thể là bị kiện cáo hoặc
hay bị công an hỏi thăm).
Ấn đường mà lông mày giao nhau thì hay bị quẫn bách trong cuộc sống do anh em bất hòa, do anh em phải xa nhau hay do tiền bạc.
Các
văn trên ấn đường cũng ảnh hưởng đến tính cách, số phận hay vận mệnh
của con người. Nhiều người tuổi trẻ cũng đã có văn trên ấn đường chứ
không cứ người già. Có các loại văn như sau:
-
Luyến chân văn (văn chính giữa ấn đường khi nhíu lông mày): là người có
ý chí mạnh mẽ, có tinh thần trách nhiệm cao nhưng cuộc sống vợ chồng
hay xung khắc.
"Số phận là hình ảnh tư tưởng mà ra" - Thánh Phao rô
- Xuyên tự văn (川-
Ba văn dọc xuống): Là con người khá bảo thủ nhưng không phải định kiến
mà là hay làm theo ý mình → vợ chồng xung khắc, hay thất bại trong môi
trường nơi mình sinh ra, người này phải xa quê lập nghiệp mới được.
- Bát tự văn (八-Văn
hình chữ bát): là người có ý chí mạnh nên vợ chồng cũng hay xung khắc.
Nếu các bộ vị liên quan khác đẹp (mắt có thần quang, mũi tốt) thì sau 40
tuổi có thể thành công, trước 40 tuổi dù có cố mấy cũng không thành
công.
-
Loạn văn (văn lung tung): xấu nhất, có thể phải xa gia đình sớm hoặc bố
mẹ chết sớm tùy theo tướng đẹp hay tướng xấu, hay bôn tẩu tứ phương.
Nếu văn này loang lổ, không rõ ràng thì tính tình rất buông thả, nếu các
bộ vị khác xấu thì không thể sống quá 30 tuổi, dễ đột tử; nếu các bộ vị
tốt thì có thể không chết nhưng vẫn bị hạn nặng.
6. Sơn căn: Là bộ vị quan trọng nối mũi và thiên đình, nối trời và người. Sơn căn và nhân trung là 2 mạch khí.
Thành: phải cao, rộng , sáng. Nếu sơn căn không rộng thì không thành đạt.
Nếu
bé, thấp, ám (màu sắc xấu hơn màu da) thì rất mệt mỏi, ảnh hưởng xấu
đến bệnh tình của mũi, sơn căn hãm thì đau ốm liên miên. Sơn căn có nốt
ruồi là hay bị tai tiếng về chuyện ái tình. Nếu các bộ vị khác xấu là
hay bị tù tội (khi nốt ruồi tử khí mọc chính sơn căn); nếu mọc 2 bên sơn
căn thì trong người hay có ác tật, ác bệnh.
7. Niên thượng: dưới sơn căn, là cung Tật ách trong Tử vi
Niên thượng sáng sủa, cao rộng là con người cao thượng, ít bệnh tật hoặc gặp tai ách dễ vượt qua.
Nếu có nốt ruồi thì cũng hay bị mang tiếng hoặc bị tù tội hoặc hay mắc bệnh về tình dục.
8. Thọ thượng: ý
nghĩa gần giống niên thượng nhưng nếu có một trụ nổi lên (sống mũi có
sụn nổi lên) thì trong cuộc đời thế nào cũng bị phá sản 1 lần, thất bại
cay đắng (mà dư âm của thất bại là khá lâu dài).
9. Chuẩn đầu: Chính giữa đầu mũi.
Thành:
tròn, đầy, sáng sủa, 2 cánh mũi 2 bên phải phối hợp thích ứng dày dặn →
Là người giàu có, thành đạt, khả năng thích ứng tốt.
Nếu có sắc ám, da không sáng thì hay bị túng quẫn vì tiền hoặc hay mất trộm, mất cắp và rất hay bệnh tật
Nếu chuẩn đầu tròn nhưng cánh mũi lộ thì là người giàu nhưng là tiền của người khác chứ
không phải của mình kiểu như thủ quĩ…
TRUNG ĐÌNH:
10. Nhân trung:
Thành: rộng, sâu, dưới rộng trên hẹp, không có nốt ruồi, nếu có nốt ruồi là người mẫn cảm hay có bệnh về đường sinh dục.
11.
Thủy tinh (miệng): Cần vuông, ngay ngắn, 2 môi cân xứng, lăng giác rõ
ràng, hình dáng thanh nhã, môi hồng, khóe miệng hướng lên, răng đều và
trắng (răng là hình của miệng). Lời nói là thần của miệng, miệng đẹp
nhưng hay nói bậy cũng không được, người hay nói bậy là bị phá (vì tâm
hồn sùng sục, không thể đạt tới cao sang được). Nếu miệng thành: hậu vận
sung sướng, con cái thành đạt, bạn bè tốt.
Miệng
chuột chù là người rất tham vọng, tham vọng vô bờ bến, bằng mọi giá để
đạt được tham vọng của mình; nếu thêm mắt ác thì càng rõ → nên tránh xa
đừng bao giờ cộng tác.
Nếu
lệch mồm, răng đen, môi thâm, ăn nói lỗ mãng, miệng rũ xuống như thuyền
úp → là người vừa cô đơn, vừa nghèo, hay bị đời khinh bỉ, hay bị mang
tiếng, bị tranh chấp cãi vã.
Răng hô: là người hồ đồ, ăn nói buông tuồng, hay bị tranh chấp cãi vã.
12. Thừa tương: (chỗ hõm dưới cằm).
Lõm vừa phải, không bị khuyết hãm không có sẹo, không được đầy vì sẽ làm cho địa các không triều về được.
Nếu lõm quá hay có vết sẹo, vết đen: tai họa về sông nước, tai họa vì ăn uống.
13. Địa các:
(là cả vùng cằm): Cần nảy nở, chầu về mũi, sáng sủa, cân xứng. Nếu địa
các vát hãm (vát lẹm, ngắn) thì là người không sống lâu được hoặc cô độc
khổ cực về già.
Có nốt ruồi và văn trên địa các thì không được thừa hưởng di sản.
Người mà Địa các xấu thì phải cẩn thận khi chia gia sản. Địa các thành thì về già yên tâm, con cái tốt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét