Kiểm tra mạch
1.Kiểm tra mạch: Nhằm mục đích
biết được trạng thái mạnh-yếu, hư-thực của thể trạng và bệnh lý của người bệnh
để biết được mức độ kích thích cần thiết. Việc kiểm tra mạch này khác hẳn với
việc ‘xem mạch – bắt mạch’ của các thầy thuốc YHCT (môn bấm huyệt này, không cần
phải tìm hiểu bộ vị mạch tương ứng với cơ quan tạng phủ bên trong, mà chỉ cần
chú ý đến lực mạch hay nói cách khác là cường độ mạnh hay yếu của mạch để có
hướng xử lý thích hợp (bấm kích thích mạnh, nếu mạch của bệnh nhân còn khỏe,
thực. Hoặc phải bấm nhẹ, vừa đủ với những bệnh nhân đang có loại mạch suy yếu
– hư...)
2.Thực Hiện: đặt 3 ngón tay
(2,3,4) lên vùng động mạnh tay quay, đồng thời theo dõi mạch đập:
a.Mạch đập nhanh: trạng thái nhiệt (nóng).
b.Mạch đập chậm: trạng thái hàn (lạnh).
Phân biệt được 2 loại mạch này sẽ giúp
điều chỉnh được lực hoặc cường độ cần kích thích.
a.Mạch đập mạnh, có lực: thực chứng.
b.Mạch đập yếu, không lực: hư chứng
Phân biệt được 2 loại mạch này sẽ giúp
điều chỉnh được lực hoặc cường độ cần kích thích.
Công thức điều trị
1.Đối với bệnh mới phát hoặc bệnh có triệu
chứng dữ dội, nếu không thuộc loại cấp cứu thì nên điều trị vào triệu chứng trước
rồi điều chỉnh tổng thể sau (cấp trị Tiêu).
2.Đối với bệnh mạn tính hay bệnh có triệu
chứng tương đối nhẹ mà bệnh nhân chịu đựng được thì nên điều chỉnh tổng trạng
trước; chữa triệu chứng sau (hoãn trị Bản).
3.Điều chỉnh tổng trạng thì theo các yếu
tố chẩn đoán của tổng trạng. Điều trị triệu chứng cục bộ nơi có bệnh thì theo
các yếu tố chẩn đoán của cục bộ.
Với các nguyên tắc và kỷ
thuật như sau:
Hàn thì làm cho ấm: bằng các kỹ thuật hơ, dán cao, xức dầu.
Nhiệt thì làm cho mát: bằng các kỹ thuật áp lạnh, gõ mai hoa, day
vaseline, lăn gai.
Hai yếu tố này bao trùm các kỹ thuật tác động cho tất cả các cơ chế
điều trị dưới đây.
a. Dương
hư thì dùng Bộ Thăng Làm ấm bằng hơ, dán cao hay xoa
dầu.
b. Âm
hư thì dùng Bộ Bổ Âm huyết day bằng vaseline.
c. Khí
hư thì bổ khí bằng Bộ Thăng nhưng không gây ấm huyệt.
d. Huyết
hư thì bổ huyết bằng Bộ Bổ Âm huyết Tùy hư hàn hay
nhiệt mà chọn kỹ thuật tương ứng.
a. Viêm
thì dùng Bộ Tiêu viêm
b. Huyết
ứ thì dùng Bộ Tiêu viêm khử Ứ | Bộ làm tan máu
bầm
c. Có
đàm thấp thủy thì dùng Bộ trừ đàm thấp thủy | Bộ Lọc thấp
| Bộ Trừ thấp | Bộ Trục thấp
d. Nhiễm
trùng thì dùng Bộ Tiêu viêm Day vaseline, hoặc dùng phản
chiếu hệ bạch huyết, phối hợp với kháng sinh.
e. U
bướu dùng Bộ trị các loại U bướu xong hơ tại chỗ
hoặc hơ vùng phản chiếu
f.
Xuất tiết nội hay ngoại
thì cầm lại bằng Bộ cầm máu và hàn vết thương
a. Khô
thì làm cho tươi nhuận Bộ Bổ Âm huyết
b. Hưng
phấn thì ức chế lại bằng Bộ Giáng
c. Trầm
cảm thì làm hưng phấn lên bằng Bộ Thăng.v.v..
Ghi chú: Tất cả các bộ
huyệt đều có sẵn trong khung Bộ huyệt thường dùng và dùng các
Đồ hình phản chiếu để xác định vùng mà cơ phận được phản
chiếu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét