Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

BỆNH GAN MẬT ( tt)


10 nguy cơ và dấu hiệu bệnh gan

Trong đó có 3 chức năng đáng chú ý nhất, đó là: tiết ra dịch mật giúp tiêu hóa thức ăn; thanh lọc độc tố cho máu đi nuôi cơ thể; dự trữ glucose để tạo năng lượng khi cần thiết.
Dưới đây là 10 dấu hiệu cảnh báo bạn có thể mắc bệnh gan, tuy nhiên, bạn cần phải thăm khám bởi bác sĩ để xác định có mắc bệnh gan hay không. Bài viết này chỉ có ý nghĩa tham khảo, không thể thay thế ý kiến tư vấn của bác sĩ.
Uống quá nhiều rượu
Tình trạng này được gọi với thuật ngữ y học là ARLD (Alcohol Related Liver Disease - Bệnh gan liên quan đến rượu). Khi mắc phải tình trạng này, có thể các triệu chứng bệnh vẫn còn ẩn, chưa biểu hiện rõ ra bên ngoài hoặc các triệu chứng ở giai đoạn sớm. 
Tuy nhiên, nếu bạn uống quá nhiều rượu, bạn cần phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên để phát hiện kịp thời nếu gan của bạn bị tổn thương. Các xét nghiệm máu sẽ phát hiện tình trạng men gan bất thường nếu gan có vấn đề. Trong giai đoạn sau của bệnh này, các triệu chứng như lơ mơ, lú lẫn và nôn ra máu... Là các dấu hiệu chắc chắn là bạn đang bị ARLD.
10 nguy cơ và dấu hiệu bệnh gan
Nhiễm virut
Có 5 loại chính của bệnh viêm gan bị gây nên bởi virut tấn công gan. Trong đó có 3 loại quan trọng nhất là viêm gan A, B và C.
Bạn có thể mắc viêm gan A bởi ăn phải thức ăn hoặc nguồn nước bị nhiễm virut này. Viêm gan B thường lây nhiễm qua tiếp xúc tình dục với người bị bệnh, hoặc do dùng chung bơm kim tiêm không được tiệt trùng. Viêm gan C thường bị lây nhiễm do việc tiếp xúc trực tiếp với máu của người bệnh.
Dấu hiệu sớm của bệnh viêm gan có thể là những triệu chứng giống như khi bị cảm cúm nhẹ: mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, sút cân... Tình trạng xấu hơn có thể là chóng mặt, suy giảm tuần hoàn, nước tiểu sẫm màu...
Khi bị viêm gan, việc điều trị chủ yếu là chỉ nhằm tạo cơ hội giúp gan phục hồi và duy trì hoạt động trở lại.
Buồn nôn và chán ăn
Bạn có thể cảm thấy buồn nôn và chán ăn hoặc mất cảm giác ngon miệng khi ăn. Đây cũng có thể là dấu hiệu của bệnh khác, nhưng nó có liên quan đến việc sản xuất và bài tiết mật của gan. Mật giúp nhũ hóa và cắt nhỏ lipid (chất béo) giúp cho chúng có thể được tiêu hóa. Khi gan gặp sự cố, cảm giác buồn nôn và chán ăn là một trong những dấu hiệu cảnh báo.
Chế độ ăn khiến gan nhiễm mỡ
Bệnh này không phải do uống quá nhiều rượu, thuật ngữ y học gọi là NAFLD (bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu). Nó có thể bị gây nên bởi chế độ ăn không lành mạnh, có quá nhiều chất béo dư thừa trong gan. Nếu không được điều trị, có thể dẫn đến xơ gan, suy gan, đau tim và đột quỵ.
Làm gì để có một lá gan khỏe mạnh?
Chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, ngủ đủ giấc là 3 yếu tố quan trọng để có được lá gan khỏe mạnh. Tránh thái quá trong việc sử dụng những thực phẩm ảnh hưởng đến gan như: rượu, bia, thuốc lá, cà phê, ngũ cốc tinh chế...
Uống một ly nước chanh mỗi ngày có thể giúp thanh thải độc tố và giúp cho gan phải làm việc ít hơn. Ăn nhiều rau tươi có màu xanh đậm như rau bina, bắp cải xanh, rau ngót. Và ăn các loại quả như: quả óc chó, quả bơ, quả mọng... và uống nhiều nước là rất có lợi.
Dấu hiệu ban đầu có thể là cảm giác khó chịu và đau tức hạ sườn phải, nhưng đôi khi triệu chứng không rõ ràng.
Điều trị bệnh này thường là ngủ đủ giấc, vì nhiều nghiên cứu cho thấy bất thường hoặc thiếu ngủ gây ảnh hưởng lớn đến chức năng gan. Thay đổi lối sống, điều chỉnh chế độ ăn hợp lý và tập thể dục thường xuyên là rất cần thiết.
Bối rối và mất phương hướng
Như đã nói ở trên, một trong những chức năng quan trọng nhất của gan là thanh lọc các chất độc ra khỏi máu. Ví dụ khi chúng ta uống thuốc, gan có thể chuyển hóa chúng thành chất vô hại và loại bỏ chúng. Ngoài ra khi chúng ta ăn các chất đạm (protid), quá trình tiêu hóa sẽ tạo ra chất amoniac gây độc, gan sẽ chuyển hóa và làm cho chúng trở nên vô hại. 
Tuy nhiên, khi gan hoạt động không tốt, các chất độc sẽ tích tụ và thậm chí gây ra các vấn đề cho não. Tình trạng này còn được gọi là bệnh não gan (Hepatic Encephalopathy). Người bệnh sẽ hay nhầm lẫn và mất phương hướng.
Mệt mỏi
Mệt mỏi và kiệt sức thường được cho là dấu hiệu liên quan đến các vấn đề về gan. Khi gan không khỏe mạnh, việc loại bỏ các độc tố trong máu sẽ không được hiệu quả. Một trong các phương pháp hay được các bác sĩ ở Anh thực hiện để xác định xem sự mệt mỏi này có phải do gan bị bệnh gây ra hay không, đó là phương pháp "Fatigue Impact Scale". Nó đánh giá tác động gây mệt mỏi của những hoạt động thể chất và tinh thần. Thường được sử dụng để đánh giá mức độ hồi phục của gan khi điều trị.
U nang ở gan
Thật may mắn vì thông thường, điều này không phải là tình trạng nghiêm trọng. Vấn đề này phát sinh khi gan bị bệnh mà có một số tế bào tăng sản xuất và tiết chất lỏng tạo thành túi nước như u nang. Sẽ không có dấu hiệu cảnh báo nào cho đến khi các u nang phát triển to và có thể gây đau đớn và khó chịu.
Phải thường xuyên đi kiểm tra chụp chiếu, siêu âm và làm các xét nghiệm khác để xác định tình trạng bệnh.
Phù do xơ gan
Điều này có thể xảy ra khi bạn bị viêm gan C hoặc biến chứng của bệnh viêm gan do rượu (ARLD) ở các nước phát triển. Vấn đề nghiêm trọng là bị suy giảm mạnh chức năng gan, các tổ chức gan bị xơ hóa, chai lại và sẹo. Chân và bàn chân bị phù do ứ nước, bàn tay bàn chân bị ngứa, dễ bị bầm tím, gan trở nên rất nhạy cảm khi va chạm.
Nước tiểu đậm màu hơn
Nước tiểu sẫm màu hơn có thể là do bạn uống thuốc gì đó gây nên, hoặc đơn giản có thể chỉ do bạn uống không đủ lượng nước hàng ngày. Nhưng khi tự dưng thấy màu nước tiểu đậm hơn nhiều so với bình thường và nhất là bạn thấy phân có màu trắng, điều này có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị bệnh gan. Trong trường hợp này, bạn cần phải khẩn trương đến bệnh viện để được chữa trị khẩn cấp, vì có thể chức năng gan của bạn đă bị suy giảm nghiêm trọng.
Vàng da
Một dấu hiệu cảnh báo cổ điển cho bệnh gan là vàng da và lòng trắng mắt chuyển sang màu vàng. Vàng da, vàng mắt là dấu hiệu đặc hiệu của bệnh gan, do gan không chuyển hóa và thanh thải được sắc tố mật có tên là bilirubin.
Khi chức năng gan bình thường thì lượng bilirubin tự do trong máu sẽ được gan chuyển hóa thành dạng kết hợp và thải trừ ra ngoài, khi chức năng gan suy giảm, lượng bilirubin tự do dư thừa nhiều trong máu, gây nên tình trạng vàng da, vàng mắt này.

Viêm gan C có thể dẫn đến liệt run


Hình minh họa. Nguồn Internet
Đó là kết luận mới công bố của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Đài Loan. Cụ thể nhóm nghiên cứu đã theo dõi trên 62.276 người và ghi nhận được các bệnh nhân bị viêm gan C có tỉ lệ mắc bệnh Parkinson cao gấp 1,39 lần các bệnh nhân không bị viêm gan C.
Viêm gan C mãn tính là bệnh có thể diễn tiến thành xơ gan và ung thư gan về sau. Hiện có nhiều loại thuốc điều trị bệnh tương đối triệt để. 
Parkinson có đặc điểm là các tế bào thần kinh trong não bị hư hại và chết dần làm giảm tiết chất dopamine trong hệ thần kinh, dẫn đến co cứng và mất điều hòa hoạt động các thớ cơ, làm chúng ta bị run tay chân và cứng cơ, gây tàn phế rất nghiêm trọng về lâu dài.

Vi khuẩn ngừa viêm gan C

“Hợp chất soraphen A chiết xuất từ loại vi khuẩn sống trong tự nhiên có thể ức chế virút viêm gan C”.

Đó là kết luận vừa mới công bố của nhóm nghiên cứu hỗn hợp thuộc Đại học Heidelberg (Đức) và Đại học Pompeu Fabra (Tây Ban Nha).
Cụ thể nhóm nghiên cứu đã nuôi các tế bào gan tự nhiên cùng với các tế bào gan bị nhiễm virút viêm gan C trong môi trường nuôi cấy và phát hiện hợp chất soraphen A có khả năng ức chế sự lây nhiễm của virút viêm gan C ở các mức độ khác nhau. Soraphen A được vi khuẩn Sorangium cellulosum tiết ra, loại vi khuẩn này thường hiện diện trong đất cát và vỏ cây.
Viêm gan C mãn tính là bệnh có thể diễn tiến thành xơ gan và ung thư gan, nhưng ở giai đoạn đầu bệnh có diễn tiến âm thầm.


2 ngày ăn đậu đỏ 1 lần, cơ thể không còn chất độc

Nhắc tới các loại đậu tốt cho sức khỏe, người ta thường nhớ đến đậu xanh với công dụng mát gan, giải độc nhưng đậu đỏ mới thực sự là "vua giải độc" trong các loại đậu.

Đậu đỏ có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, dưỡng huyết, tiêu ứ, thanh hỏa độc…

Đậu đỏ chứa nhiều chất dinh dưỡng quý. Cứ 100g đậu đỏ khô thì chứa 60,9g đường, 4,8g chất xơ, 20,9g protid, 3,3g tro.
Ngoài ra, đậu đỏ còn chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất như canxi, photpho, axit nicotinic, vitamin nhóm B… Đối với cơ thể, đậu đỏ có nhiều công dụng cực tốt mà bạn cần chú ý.

1. Tác dụng giải độc vượt trội

Đậu đỏ rất giàu vitamin nhóm B và mang tính chất kiềm thạch có tác dụng nhuận tràng, thông ruột, giải độc cho ruột và gan hiệu quả.

Ngoài ra, lớp vỏ ngoài màng đậu đỏ cũng chứa nhiều chất xơ có tác dụng kích thích nhu động ruột rất tốt, nhờ đó giúp loại bỏ được các chất cặn bã bám ở thành ruột, làm sạch ruột.

Người bình thường chỉ cần uống nước và ăn đậu đỏ ninh nhừ cách ngày 1 lần sẽ giúp giải độc cơ thể cực tốt.

Người bị ngộ độc nhẹ cần uống ngay 1 cốc nước đậu đỏ đun với 1 ít muối, độc tố sẽ được đẩy ra hết ra ngoài qua đường tiểu.

2. Trị bệnh với những bài thuốc từ đậu đỏ

Những căn bệnh do cơ thể nhiễm độc như phù thận, thận yếu, khó tiểu tiện, sỏi đường tiết niệu hay nổi mụn cũng có thể điều trị bằng các bài thuốc từ đậu đỏ.

Dưới đây là các bài thuốc dân gian có sử dụng đậu đỏ, trong đó loại thực phẩm này thể hiện vai trò giải độc rất rõ:

Bệnh viêm tiểu cầu thận: Dùng 90g đậu đỏ, 60g râu ngô, 20 trái táo đỏ, 30g đường đỏ hoặc đường vàng nấu nước uống trong ngày cho đến khi hết bệnh, kéo dài khoảng từ 1-3 tháng.

Bệnh viêm thận cấp tính: Dùng 50g đậu đỏ, 1 con cá chép, 1kg bí đao, chút hành hoa; nấu canh cá chép đậu đỏ rồi ăn cả nước lẫn cái lúc còn nóng, sau đó đắp chăn cho vã mồ hôi. Ngày ăn 1 lần, ăn liên tục 7 ngày.

Bệnh phù thũng, tiểu tiện không thông: Dùng 20g đậu đỏ, 30g hạt bo bo, 30g gạo, chút đường. Đậu đỏ ngâm mềm rồi luộc hoặc hấp cho chín mềm, cho nguyên liệu còn lại vào nấu nhừ, cho đường vào cho dễ ăn. Ngày ăn 2 lần, ăn nhiều ngày đến khi hết bệnh.

Bệnh sỏi tiết niệu: Dùng 50g đậu đỏ, 50g hạt gạo tẻ, 20g kê nội kim (màng trong mề gà phơi khô, tán bột), chút đường. Đậu đỏ và gạo nấu thành cháo, trộn kê nội kim và đường vào, ngày ăn 2 lần, ăn trong 30 ngày.


Biểu hiện chứng tỏ bạn đã bị xơ gan

Xơ gan gặp ở cả người lớn và trẻ em. Đây là bệnh tiến triển từ từ, khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã rất nặng với nhiều biến chứng nguy hiểm, việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, cần phải phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời. Trước khi bị xơ gan, hầu hết bệnh nhân đều mắc các bệnh lý gan mật như viêm gan do virus, nghiện rượu.
dấu hiệu bệnh xơ gan
Xơ gan gặp ở cả người lớn và trẻ em
Nhịp tim tăng lên
Cũng bởi do gan không thể loại bỏ nước dư thừa ra khỏi cơ thể nên khối lượng chất lỏng trong máu sẽ tăng, từ đó khiến nhịp tim tăng lên.
Dễ chảy máu
Bên cạnh đó, bệnh nhân dễ bị chảy máu dưới da và niêm mạc, như chảy máu cam, chảy máu chân răng. Một số trường hợp da sạm đen do lắng đọng sắc tố hoặc vàng mắt, vàng da kèm theo ngứa, nhất là trường hợp xơ gan do ứ mật.
Bị phù
Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan. Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Ngoài ra, xơ gan cũng ảnh hưởng đến chức năng nội tiết của cơ thể. Nam giới có biểu hiện giảm ham muốn tình dục, teo tinh hoàn, vú to ra. Nữ giới rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh.
Tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường biểu hiện bằng hiện tượng tuần hoàn bàng hệ. Lúc đầu, các tĩnh mạch nổi lờ mờ ở vùng mũi ức và hạ sườn phải, sau đó phát triển rõ dần, có khi nhìn thấy từng búi tĩnh mạch nổi lên. 
Lúc này, bệnh nhân có thể bị trĩ nội, trĩ ngoại, xuất huyết tiêu hóa do vỡ các tĩnh mạch ở thực quản và dạ dày. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng trương phình. Chọc hút dịch cổ trướng thường có màu vàng, nếu có màu hồng thì có thể xơ gan đã bị ung thư hóa.
Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa. Lúc này, bệnh rất ít đáp ứng điều trị, có đến 60% tử vong trong năm đầu tiên, trên 80% tử vong trong vòng 2 năm và chỉ 6% sống quá 3 năm. Bệnh nhân tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.


Ung thư gan - cách ngừa hiệu quả nhất

Ung thư gan được xem như một dấu chấm hết cho cuộc đời của người bệnh, tuy nhiên, bệnh hoàn toàn có thể ngăn ngừa với lối sống lành mạnh, chủ động kiểm soát và tăng cường hệ miễn dịch cho gan.
bệnh ung thư gan
Giảm khối lượng và tần suất tiêu thụ rượu bia sẽ giảm gánh nặng cho gan
Tế bào gan có thể phục hồi nhưng lại là nhóm tế bào luôn chịu nhiều tác hại từ các nguy cơ bên ngoài. Nếu không bảo vệ đúng cách sẽ khiến tế bào gan hư tổn và mất dần khả năng tự vệ trước sự tấn công của vi-rút và tế bào ung thư. 

Ung thư gan rất dễ phòng tránh nếu bạn thực hiện tốt các việc sau:

Quan tâm chăm sóc cơ thể trước khi gặp bất kỳ vấn đề nào về sức khỏe giúp chúng ta chủ động ngăn ngừa các nguy cơ bệnh tật. Một cơ thể khỏe mạnh là một thành trì vững chắc bao bọc và bảo vệ gan khỏi các tác nhân gây hại. 
Ngoài ra, hệ miễn dịch hoàn thiện còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và tiêu diệt các tác nhân gây bệnh khi chúng xâm nhập vào cơ thể, nhờ đó, giảm nguy cơ mắc bệnh cho gan. Một vài lời khuyên sau giúp chủ động kiểm soát nguy cơ ung thư gan:
- Kiểm soát các yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh ung thư gan như căn bệnh viêm gan B, viêm gan C bằng cách quan hệ tình dục an toàn, không dùng chung bơm kim tiêm, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục...
- Thực hiện việc chủng ngừa đối với bệnh viêm gan B để tránh các nguy cơ lây nhiễm và đề phòng lây nhiễm từ mẹ sang con. Đối với viêm gan C chưa có vắc xin phòng ngừa, vì vậy, cần thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh.
- Tăng cường miễn dịch giúp cơ thể luôn vững vàng trước các tác nhân gây hại, giảm nguy cơ các bệnh, kể cả các bệnh về gan như ung thư gan.
- Kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp tầm soát bệnh và kịp thời có giải pháp điều trị kịp thời và hợp lý.
- Đối với những người có nguy cơ cao như là đã mắc viêm gan B, viêm gan C mãn tính, xơ gan, nên tầm soát ung thư bằng cách xét nghiệm máu với alpha-fetoprotein (AFP) và siêu âm mỗi 6 - 12 tháng.
- Quản lý việc uống rượu bia hợp lý: giảm khối lượng và tần suất tiêu thụ rượu bia sẽ giảm gánh nặng cho gan.
- Hạn chế sử dụng rượu: Uống rượu có chừng mực hoặc bỏ rượu nếu đã uống rượu lâu năm để ngăn ngừa bệnh ung thư gan.
- Phòng tránh căn bệnh béo phì.
- Hạn chế tiếp xúc với hóa chất và nấm mốc gây ung thư.


Uống nước ngọt có ga tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ

Nước ngọt là loại thức uống phổ biến và được ưa thích không chỉ với trẻ em mà còn với người lớn tuổi. Ở Việt Nam, chỉ cần đi đến bất kỳ tiệm tạp hóa nào cũng có thể tìm thấy nước ngọt. Chúng xuất hiện tại các bữa ăn gia đình, bữa tiệc hay những buổi họp mặt. Nhiều người còn trữ sẵn nước ngọt trong nhà và xem đó như là loại thức uống dùng hàng ngày.
80% bị gan nhiễm mỡ do nước ngọt
Các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng lão hóa con người Jean Mayer, Boston, Mỹ đã công bố, 80% người mắc gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) mà do sử dụng nước ngọt. Nhóm người bệnh gan nhiễm mỡ có lượng tiêu thụ carbohydrate nhiều gấp 5 lần từ nước ngọt so với người khỏe mạnh. 
7% bệnh nhân sử dụng một loại nước ngọt mỗi ngày, 55% tiêu thụ hai hoặc ba lon nước ngọt mỗi ngày và 38% tiêu thụ hơn bốn loại nước ngọt hầu hết các ngày, kéo dài trong 6 tháng. Báo cáo đã được đăng tải trên tạp chí The Journal of Hepatology tháng 6/2015 vừa qua.
Để có kết quả nghiên cứu trên, các chuyên gia y khoa đã thu thập, phân tích ý kiến từ 2.634 người tình nguyện, ở nhiều độ tuổi, giới tính. Các loại đồ uống thể hiện trong bảng câu hỏi bao gồm cà phê, nước có ga, nước trái cây có đường, không đường và các loại không có ga khác. Sau đó, các tình nguyện viên tham gia xét nghiệm để đo lượng chất béo trong gan.
Kết quả cho thấy NAFLD chiếm tỷ lệ cao trong số những người thừa nhận uống nhiều hơn một lon nước ngọt mỗi ngày so với người không uống đồ ngọt. Nếu thường xuyên uống nước ngọt, người dùng có nguy cơ cao bị gan nhiễm mỡ. Rất nhiều người dù không uống nước ngọt nhưng lại bất ngờ khi các bác sĩ chẩn đoán mình bị mắc gan nhiễm mỡ.
Gan nhiễm mỡ không có triệu chứng
TS.BS Phạm Thị Thu Thủy - Trưởng khoa Gan, Trung tâm Y khoa Medic chia sẻ, phần lớn các trường hợp gan nhiễm mỡ đều không có triệu chứng. Các bệnh nhân thường được phát hiện thông qua những sự bất thường nhẹ về chỉ số AST hoặc ALP khi đi khám bệnh định kỳ. GGT, ALP và AST là chỉ số được các bác sĩ sử dụng để chẩn đoán tình trạng gan khi bệnh nhân thực hiện xét nghiệm.
uong-nuoc-ngot-co-ga-tang-nguy-co-gan-nhiem-mo
TS.BS Phạm Thị Thu Thủy chia sẻ, phần lớn các trường hợp gan nhiễm mỡ đều không có triệu chứng
Trong các trường hợp khác, tình trạng gan nhiễm mỡ được phát hiện khi bác sĩ chỉ định bệnh nhân làm siêu âm hoặc chụp cắt lớp điện toán để tầm soát một bệnh khác, như sỏi mật. Tuy nhiên, gan nhiễm mỡ có thể chỉ biểu hiện với triệu chứng mệt mỏi và cảm giác khó chịu ở vùng hạ sườn phải.
Ở tình trạng gan nhiễm mỡ nặng, có thể có triệu chứng vàng da, đau bụng, buồn nôn, ói mửa và gan to nhẹ. Đối với bệnh nhân gan nhiễm mỡ do những nguyên nhân khác có kèm theo những triệu chứng toàn thân và những dấu hiệu đặc trưng của những hiện tượng khó chịu đã nói trên. 
Khi đó, bác sĩ có thể yêu cầu bệnh nhân thực hiện siêu âm, chụp CT để biết tình trạng của gan. Phương pháp sinh thiết gan sẽ được thực hiện để chẩn đoán bệnh chính xác.
Cũng theo Tiến sĩ Thủy, những bất thường về kết quả xét nghiệm của tình trạng gan nhiễm mỡ thường rất ít. Hầu hết các trường hợp có sự tăng nhẹ về các chỉ số AST huyết thanh, ALP hoặc GGT, tăng lượng mỡ trong máu, tăng triglycerides. Thông thường bệnh nhân chỉ phát hiện một bất thường khi xét nghiệm gan, như tăng chỉ số ALP, biểu hiện ít gặp hơn là tăng bilirubin huyết thanh trực tiếp và giảm albumin huyết thanh.
Để phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ, các chuyên gia khuyên rằng những tín đồ hảo ngọt nên điều chỉnh lại chế độ ăn uống hợp lý. Đồng thời đừng quên tham vấn ý kiến của chuyên gia y tế để lắng nghe gan nói.


Người Việt Nam bị ung thư gan nhiều nhất thế giới

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Băng Sương, Trưởng khoa Xét nghiệm, BV Đại học Y Dược TPHCM, ung thư gan xếp thứ ba trong nhóm ung thư gây tử vong nhiều nhất thế giới, chỉ sau phổi và dạ dày. 
Năm 2010 ước tính toàn cầu có khoảng 754.000 người tử vong do ung thư gan. Trung bình mỗi năm có thêm nửa triệu ca mắc mới. Hơn 80% số bệnh nhân ở các quốc gia châu Á và khu vực châu Phi cận Sahara. Dạng ung thư gan phổ biến nhất là Carcinom tế bào gan (HCC), chiếm đến 80%.
viet-nam-bi-ung-thu-gan-nhieunhatthe-gioi
Ảnh minh họa: Health
Thực tế lâm sàng ghi nhận nguyên nhân dẫn đến ung thư gan chủ yếu là viêm gan mạn tính do virus viêm gan C (HCV) và viêm gan B (HBV) dẫn đến xơ gan. Đây là bệnh cảnh nền của 70-80% tổng số ca ung thư gan. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nghiện rượu, độc tố aflatoxin của nấm Aspergillus flavus trong ngũ cốc.
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan cao nên có tỷ lệ ung thư gan cao. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có trên 10.000 ca ung thư gan mới phát hiện, tỷ lệ này cao nhất thế giới.
 Điều tra dịch tễ ở Hà Nội, Bắc Giang cho thấy tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và C lần lượt là 8,0 % và 2,7%. Tại TPHCM, ung thư gan đứng thứ nhất trong số 10 loại ung thư thường gặp ở nam giới (với tần xuất 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm), thứ sáu ở nữ (với tần suất 8,3 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm). Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ ba ở nam giới và thứ bảy ở nữ. 
Khảo sát cho thấy bệnh nhân ung thư gan được phát hiện ở giai đoạn đầu nếu được phẫu thuật triệt để hoặc ghép gan sẽ mang lại kết quả tốt, tỷ lệ sống lên đến 80%. Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển như nước ta, bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn cuối nên ghép gan không đạt kết quả tốt. Khi đó ung thư đã xuất hiện tại các tạng khác, có khả năng lây lan vào gan mới ghép, tỷ lệ sống sót sau 5 năm chưa đến 10%. 
Bác sĩ Băng Sương nhìn nhận, ung thư gan tiến triển thầm lặng, không có triệu chứng ở giai đoạn sớm nên đa số bệnh nhân được phát hiện muộn. Do vậy bác sĩ khuyên những người thuộc nhóm có yếu tố nguy cơ cao như mắc bệnh viêm gan B, C, xơ gan, uống rượu nhiều hoặc trong gia đình từng có người bị ung thư gan, nên thường xuyên kiểm tra tầm soát để phát hiện bệnh sớm. 
Ở góc độ khác, tiến sĩ Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương, cho rằng tiêm phòng văcxin viêm gan B có vai trò vô cùng quan trọng trong phòng ngừa ung thư gan, đặc biệt ở trẻ em. Tuy vậy, những năm gần đây xảy ra một số trường hợp tai biến nghiêm trọng, thậm chí tử vong liên quan đến tiêm chủng khiến nhiều phụ huynh hoang mang không cho con em đi tiêm. Các bệnh viện cũng ngại triển khai tiêm ngừa vì lo sợ rủi ro. Từ đó dẫn đến tỷ lệ tiêm văcxin giảm hẳn. Đây là một trong những nguyên nhân khiến các bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó có viêm gan B. 
Theo bà Hồng, tỷ lệ tai biến do tiêm chủng ở nước ta trong giới hạn cho phép của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), song ngành y tế đang nỗ lực triển khai những giải pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ này. Thời gian qua, Bộ Y tế tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ tiêm chủng nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu sốc phản vệ sau tiêm, xử trí kịp thời, đúng phương pháp sẽ cứu sống được các trẻ bị tai biến nặng. Bên cạnh đó còn hướng dẫn phụ huynh cách phát hiện sớm các dấu hiệu tai biến nặng để kịp thời đưa đến cơ sở y tế để xử trí theo đúng phác đồ.
Khảo sát của WHO tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh viêm gan C gia tăng do phần lớn người dân và bệnh nhân thiếu kiến thức về bệnh nên không có khái niệm về tầm soát, điều trị và phòng ngừa lây lan. Rất nhiều người bệnh chủ quan cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm virus này nên không tiến hành các xét nghiệm sớm, vô tình lây truyền mầm bệnh cho những người xung quanh. 
Các chuyên gia khẳng định việc phát hiện viên gan C quá muộn sẽ gây khó khăn trong điều trị. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm, đúng liệu trình có thể khỏi hẳn mà không để lại di chứng. Chính vì thế việc chủ động xét nghiệm tầm soát là biện pháp tốt nhất để hạn chế lây lan và điều trị dứt điểm.



Gan nhiễm mỡ làm sao tránh được?

Ngày nay với sự phát triển trong đời sống kinh tế, xã hội, sự dư thừa trong chế độ  ăn uống, nhất là ăn uống không hợp lý: quá nhiều thịt, mỡ, sử dụng nhiều rượu bia, thuốc lá… kết hợp với áp lực công việc căng thẳng, các stress kéo dài, cuộc sống làm việc tĩnh tại, ít vận động… cùng với các yếu tố khác như nhiễm virut, độc chất hay sử dụng thuốc không theo chỉ định đã gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm như: xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, nhiều bệnh lý đường tiêu hóa xuất hiện, trong đó bệnh lý gan nhiễm mỡ đang ngày càng có biểu hiện tăng cao ở Việt Nam. Gan nhiễm mỡ là khi lượng mỡ trong gan trên 5% trọng lượng của gan và trong các tế bào gan chứa các không bào mỡ.
Vì sao gan nhiễm mỡ?
Có 4 cơ chế chính gây ra sự tích tụ mỡ trong tế bào gan, đó là do chế độ ăn uống quá nhiều dầu mỡ hoặc các acid béo, đặc biệt là mỡ động vật quá bão hòa hoặc tăng sự phân phối mỡ đến tế bào gan; do tăng sự tổng hợp acid béo ở ty lạp thể hoặc giảm quá trình ôxy hóa mỡ trong tế bào gan; do giảm sự bài xuất tế bào mỡ ra khỏi tế bào gan và do sự tăng vận chuyển carbonhydrat đến gan quá nhiều.
Gan bình thường (trái) và gan nhiễm mỡ (phải).
Do đó, các nguyên nhân chính gây ra gan nhiễm mỡ trước hết phải kể đến là do rượu. 90% đàn ông uống rượu nhiều đều gây ra gan nhiễm mỡ và lâu dài dẫn đến xơ gan. Nhóm nguyên nhân thứ 2 là béo phì, đây là nguyên nhân gan nhiễm mỡ thường gặp ở các nước phương Tây nhưng hiện tại cũng đang có chiều hướng gia tăng ở Việt Nam. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như đái tháo đường typ 2, do thuốc hoặc sử dụng quá nhiều đường, trong viêm gan virut C giai đoạn đầu…
Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh; chẩn đoán thường dựa vào siêu âm và để chẩn đoán chính xác phải dựa vào sinh thiết gan. Trên siêu âm, thường chia gan nhiễm mỡ làm 3 độ:
Gan nhiễm mỡ độ 1: gia tăng nhẹ độ hồi âm lan tỏa của nhu mô, mức độ hút âm chưa đáng kể, vẫn còn xác định được cơ hoành và đường bờ các tĩnh mạch trong gan.
Gan nhiễm mỡ độ 2: gia tăng độ hồi âm lan tỏa của nhu mô, khả năng xác định được cơ hoành và đường bờ các tĩnh mạch trong gan bị giảm nhiều.
Gan nhiễm mỡ độ 3: gia tăng rõ rệt độ hồi âm lan tỏa của nhu mô, mức độ hút âm tăng mạnh đến mức khó xác định được cơ hoành và đường bờ các tĩnh mạch trong gan.
Ăn nhiều đồ béo là xúc tác khiến gan nhiễm mỡ.
Điều trị như thế nào?
Nói chung về điều trị gan nhiễm mỡ chủ yếu là dự phòng và làm giảm nguy cơ gây ra gan nhiễm mỡ, dựa vào yếu tố thường gặp ở Việt Nam là do rượu và do tăng lipid máu. Vì vậy trước hết cần tránh uống rượu bia nhiều, hạn chế ăn nhiều đường và mỡ, tập thể dục thường xuyên, tránh các thuốc gây độc cho gan và điều trị theo nguyên nhân gây ra bệnh gan nhiễm mỡ.
Điều trị viêm gan virut nếu có.
Bệnh lý rối loạn lipid máu thì sử dụng các thuốc chống tăng mỡ máu như nhóm fibrat (lypanthyl, lipavlon), nhóm lovastatin hoặc simvastatin, vitamin E liều cao, cũng có tác dụng góp phần làm giảm tình trạng gan nhiễm mỡ.
Bệnh lý đái tháo đường, cần tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn, chế độ sinh hoạt, làm việc và uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Tùy theo tình trạng nhiễm mỡ, điều kiện kinh tế của bệnh nhân mà có thể cân nhắc sử dụng các loại thuốc chống thoái hóa mỡ ở gan như: livolin H, methionin hay silimarin.
Và điều cuối cùng, trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào, nhất là các thuốc có khả năng gây độc cho gan nói chung và khả năng gây nên bệnh lý gan nhiễm mỡ nói riêng như đã trình bày ở trên; người bệnh cần có ý kiến của bác sĩ, để tránh xảy ra các hậu quả đáng tiếc.


Biến chứng của viêm gan B nguy hiểm thế nào?

Viêm gan B mạn tính có thể diễn tiến thành xơ gan (sẹo hóa nhiều hay xơ hóa). Người bệnh có thể có dấu hiệu yếu người, mệt mỏi, dễ bị nhiễm khuẩn.

Xơ gan: Viêm gan B mạn tính có thể diễn tiến thành xơ gan (sẹo hóa nhiều hay xơ hóa). Người bệnh có thể có dấu hiệu yếu người, mệt mỏi, dễ bị nhiễm khuẩn.
Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng. Vì không có biểu hiện rõ rệt nên người bệnh chủ quan, không đi khám và điều trị sớm làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo.
Suy gan: Biểu hiện rõ rệt nhất là suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Tình trạng xơ hóa làm chức năng gan suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện. Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan.
Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng trương phình. 
Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa. Bệnh nhân có thể tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.
Ung thư gan: Những người bị nhiễm viêm gan B mạn tính có tăng nguy cơ ung thư gan. Triệu chứng thường gặp nhất của ung thư gan là đau bụng và phù, cường lách, sụt cân và sốt. 
Ngoài ra, khối u gan có thể sản xuất và phóng thích những chất làm tăng hồng cầu, giảm đường máu và tăng canxi máu. Ung thư gan là bệnh trầm trọng, diễn biến nhanh, điều trị khó khăn, trong khi đó phần lớn bệnh nhân ung thư gan được phát hiện thường ở giai đoạn muộn.


Phụ nữ mắc bệnh viêm gan B có nên sinh con không?

Nhiều người cho rằng, khi phụ nữ mắc bệnh viêm gan B thì không nên sinh con vì sẽ lây nhiễm sang con. Quan niệm trên liệu có đúng hay không dưới góc nhìn của chuyên gia.

Viêm gan virus B (HBV) là vấn đề y tế mang tính chất toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay có khoảng 240 triệu người trên thế giới mang HBV mạn tính. Việt Nam nằm trong vùng dịch lưu hành cao: có > 8% người nhiễm HBV mạn, khoảng 15-25% người nhiễm HBV mạn sẽ chết do xơ gan hay ung thư tế bào gan.
Trong các bệnh truyền nhiễm thường gặp, viêm gan virus C cũng là vấn đề được xã hội quan tâm. Số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy trên thế giới hiện có khoảng 170 triệu người nhiễm virus viêm gan C (HCV) và 3-4 triệu người mắc mới mỗi năm.
Tuy nhiên, người mang virus B, C nếu điều trị kịp thời sẽ ngăn ngừa gây bệnh gan, xơ gan, ung thư tế bào gan và tử vong,…Vì vậy, ngoài chẩn đoán và tiên lượng bệnh, điều trị thành công cho người bệnh luôn là vấn đề đặt ra với các bác sỹ lâm sàng.
Trước sự nguy hiểm của căn bệnh này đối với cộng đồng, mới đây Bệnh viện Medlatec đã tổ chức Hội nghị “Cập nhật điều trị viêm gan vi rút B và C”. Tại Hội nghị PGS. TS Trịnh Thị Ngọc - nguyên Trưởng Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bạch Mai, phó chủ tịch hội gan mật Hà Nội cho biết, hiện nay nhiều người vẫn còn rất chủ quan và thơ ơ đối với căn bệnh viêm gan B và C.

“Quan thăm dò những trường hợp mắc bệnh xơ gan và ung thư gan, có đến 50% số người mắc bệnh lần đầu tiên biết mình bị bệnh. Điều đó có nghĩa là, họ chủ quan trong việc khám sức khỏe, tầm soát bệnh. Chỉ khi bệnh nặng mới đi khám và phát hiện bệnh thì đã ở giai đoạn muộn”, PGS Ngọc cho biết.
Theo PGS Ngọc, chi phí làm xét nghiệm để biết mình có nhiễm virus viêm gan hiện nay không hề đắt đỏ, theo đó nếu chỉ test thì chi phí khoảng 40 đến 50.000 đồng/ lần, còn nếu xét nghiệm thì chỉ khoảng 70-80.000 đồng/ lần.
Về điều trị căn bệnh viêm gan B và C, PGS Ngọc cho biết, mục tiêu điều trị viêm gan virus B là ngăn ngừa xơ gan, ung thư biểu mô tế gan và tử vong, còn mục tiêu điều trị viêm gan virus C là làm sạch virus, ngừng tiến triển hoại tử, xơ gan và không còn triệu chứng bệnh.
Ngoài ra, PGS Ngọc khuyến cáo việc điều trị thất bại có thể liên quan đến người bệnh như không tuân thủ theo yêu cầu của bác sĩ, sự đề kháng bẩm sinh với thuốc, tác dụng phụ, ngừng điều trị, giảm liều thuốc, điều trị không liên tục trong một đợt điều trị, thời gian điều trị không đủ,… Vì vậy, người bệnh cần tuân thủ đúng phác đồ điều trị và kiểm tra định kỳ theo lịch hẹn của bác sỹ.
Chia sẻ với phóng viên bên lề Hội nghị về những quan điểm dùng thuốc đông y chữa viêm gan, hoặc một số người quan niệm: mắc bệnh viêm gan thì không nên có con? PGS Ngọc khẳng định: “Thuốc nam và thuốc bắc không có tác dụng điều trị bệnh viêm gan B, C mà những loại thuốc này chỉ có tác dụng hỗ trợ. Bởi vậy, người bệnh cần tuân thủ đúng phắc đồ điều trị mà bác sĩ đưa ra”.
Riêng vấn đề mắc viêm gan có nên sinh con không? PGS Ngọc cho rằng, quan niệm viêm gan B.C không có con vì sợ bị lây bệnh là quan điểm hoàn toàn sai lầm. “Khi phát hiện bệnh, người phụ nữ vẫn có con bình thường. Tuy nhiên phải biết cách phòng để không lây nhiễm sang con.
Theo đó, đến tháng thứ 5 của thai kỳ, người mẹ nên đi làm xét nghiệm xem có dương tính với virus viêm gan hay không. Nếu dương tính, người mẹ cần phải uống thuốc ngay khi thai được 5 tháng tuổi và kéo dài đến sau sinh 1-2 tháng.
Ngoài ra, khi đứa trẻ chào đời cần phải tiêm phòng vắc xin viêm gan B, như vậy khả năng lây nhiễm sẽ rất thấp”, PGS Ngọc cho biết.


Viêm gan B lây nhiễm như thế nào?



Cách lây nhiễm của bệnh viêm gan B (viết tắt là nhiễm HBV) đúng là cũng giống như nhiễm HIV. Tức là lây nhiễm theo 3 đường: qua quan hệ tình dục; đường máu (từ đường tiêm chích); từ mẹ truyền sang con khi mang thai và lúc sinh.

Tuy nhiên, nhiễm HBV có thuốc chữa và thuốc ngừa, chứ không phải hoàn toàn không chữa được. Khi làm xét nghiệm máu và có kết quả chính xác nhiễm HBV, nhưng nếu không có triệu chứng rối loạn (thể hiện các men gan ALT, AST khi xét nghiệm vẫn ở mức bình thường) thì người nhiễm an tâm không cần chữa trị gì cả, bởi vì không phải tất cả mọi người bị nhiễm đều phát bệnh. Có những người tuy mang mầm bệnh HBV suốt đời nhưng vẫn có thể chung sống “hòa bình”, không gây rối loạn chức năng gan
nào cả.

Trong trường hợp này, nếu người mang mầm bệnh biết giữ gìn sức khỏe, sinh hoạt điều độ, ăn uống đầy đủ dưỡng chất, không uống rượu và dùng bừa bãi thuốc, tinh thần lạc quan, thư thái, không lo âu phiền muộn thì bệnh sẽ không phát.

Hiện nay có 2 thuốc tác động thực sự đến HBV và có thể loại trừ nó là: interferon alpha và lamivudin. Nhưng bác sĩ chỉ cho dùng khi người bệnh có dấu hiệu viêm gan mạn hoạt động và có biểu hiện siêu vi đang nhân đôi (xét nghiệm thấy HBsAg dương tính, HbsAg dương tính, HBV DNA dương tính). Người bị nhiễm không cần chữa trị vẫn nên tái khám sau mỗi 6 tháng hay 1 năm để theo dõi.

Cách phòng tránh ung thư cho người bị viêm gan B mãn tính


Ảnh minh hoạ: InternetẢnh minh hoạ: Internet

1. Thận trọng với cả thảo mộc


Người Việt Nam vẫn thường có quan niệm cây cỏ thì không gây hại. Nhiều người còn thích uống nhiều loại cây lá vì tin rằng giải độc làm mát gan. Rất nhiều bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm virus viêm gan B còn tin rằng càng uống các loại thảo mộc càng tốt cho bệnh.

Thực tế, khi bị nhiễm virus viêm gan, gan của bạn yếu đi và các loại thảo mộc đều có nguy cơ gây hại cho gan, nhất là khi dùng quá nhiều. Hệ quả là quá trình xơ gan, ung thư gan của bệnh nhân viêm gan B sẽ tiến triển xấu hơn. Do đó đừng nghe lời đồn, khi muốn dùng thảo mộc gì bạn nên tham khảo bác sĩ điều trị.

2. Bỏ thói quen uống thuốc tùy tiện

Một số biệt dược có thể gây tổn thương gan, ngay cả ở người khỏe mạnh. Các loại thuốc này còn gây tác hại nguy hiểm với bệnh nhân đã nhiễm viêm gan B.

Do đó khi còn khỏe mạnh, bạn đã phải tránh cách dùng thuốc tùy tiện thì bây giờ càng phải cẩn thận hơn. Thuốc không cần kê đơn cũng đáng phải xem xét với bệnh nhân đã có virus viêm gan (HBV).

3. Tránh xa thuốc và rượu

Gan chịu trách nhiệm phân hủy các hoá chất độc hại và những chất nay gồm có các chất độc trong khói thuốc, trong rượu. Nếu bạn duy trì thói quen hút thuốc thì gan sẽ làm việc nhiều hơn và dễ suy yếu hơn, khả năng chống chọi với HBV kém hơn nhiều.

Uống rượu khi đang bị viêm gan B có làm bệnh nặng hơn, có thể gây nên tình trạng nguy hiểm gây tổn thương gan và dẫn đến xơ gan và ung thư gan

4. Chỉ ăn vừa đủ

Chế độ ăn tốt nhất chỉ chứa vừa đủ chất dinh dưỡng và năng lượng thiết. Nên ăn các loại thực phẩm giàu đạm (thịt cá, trứng, sữa…), đường và vitamin như hoa quả tươi, sữa chua…; giảm tối thiểu các thức ăn có mỡ, kể cả các món xào, rán.

5. Vận động thường xuyên
Tập thể dục tuy không thải trừ được virus HBV ra ngoài nhưng có tác dụng giúp bạn giữ và duy trì một cơ thể khỏe mạnh. Bạn có thể đi bộ, tập bơi, yoga hoặc thái cực quyền. Tuy nhiên cần nhớ là không nên tập luyện quá sức vì có thể làm cho hệ miễn dịch của bạn yếu đi.


Bệnh sán lá gan dễ nhầm với ung thư gan

Trong chẩn đoán lâm sàng, đôi khi bệnh nhân mắc sán lá gan lớn (Fasciola hepatica) có thể nhầm là ung thư gan.

Sán lá gan đến gan như thế nào?
Sán lá gan lớn ký sinh chủ yếu ở động vật ăn cỏ như trâu, bò, cừu và cả chó, mèo. Ốc là vật chủ ký sinh của ấu trùng sán lá gan lớn. Trứng sán lá gan lớn từ phân người bệnh ra môi trường bên ngoài, xuống nước, qua ốc phát triển thành ấu trùng đuôi.
Trong môi trường tự nhiên, trứng sán nở thành ấu trùng lông ký sinh trong ốc rồi phát triển thành ấu trùng đuôi. Ấu trùng đuôi rời khỏi ốc, vào nước và bám vào các loại thực vật sống trong nước để trở thành các nang trùng. Khi người ăn, uống phải các nang trùng này sẽ bị bệnh.
Sau khi vào dạ dày - tá tràng, các vỏ nang trùng bị phá hủy và giải phóng ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành tá tràng vào ổ bụng rồi di chuyển đến gan, ấu trùng đục thủng bao gan chui vào nhu mô gan để sinh trưởng và phát triển ở đấy, chúng tiết ra các chất độc phá hủy nhu mô gan gây áp-xe gan.
Sau một thời gian từ 2-3 tháng phát triển ở nhu mô gan, sán trưởng thành có thể chui vào đường mật tiếp tục phát triển, đẻ trứng ở đấy và trong suốt thời gian dài (khoảng 10 năm) nếu không được điều trị sẽ dẫn đến ung thư đường mật.
Ngoài ra có một số rất ít trường hợp ấu trùng di chuyển lạc chỗ, chúng không đến gan mà đến một số cơ quan khác (da, cơ, bao khớp, vú, thành dạ dày, đại tràng...) và gây bệnh ở đó. Vì vậy, đã gặp những trường hợp u đại tràng do sán lá gan nhưng chẩn đoán nhầm là ung thư đại tràng.
Triệu chứng của bệnh
Người bệnh thường mệt mỏi, có sốt (có thể sốt cao hoặc sốt nhẹ, chiếm tỷ lệ khoảng 70%), đau nhẹ ở hạ sườn phải (tỷ lệ chiếm 70-80%), đôi khi đau bụng âm ỉ không rõ vị trí, gan sưng to và đau.
Một số trường hợp có rối loạn tiêu hóa (chán ăn, phân không thành khuôn, tiêu chảy). Có thể có dị ứng da (20-30 %), biểu hiện các nốt sẩn trên da, gặp chủ yếu ở đùi, mông, lưng, cảm giác ngứa, khó chịu. Một số người bệnh có ho kéo dài, đau tức ngực, vàng da.
Một số trường hợp, bệnh sán lá gan lớn gây áp-xe gan có thể chẩn đoán nhầm với ung thư gan. Vì vậy, để chẩn đoán, nên lưu ý hỏi có sống ở địa phương có nhiều người bị sán lá gan hay không?
Cần xét nghiệm bạch cầu ái toan, siêu âm gan, có thể chọc hút thăm dò và xét nghiệm tế bào, ký sinh trùng, vi khuẩn, chụp cắt lớp vi tính (CT), xét nghiệm bằng phản ứng ELISA cho kết quả chính xác nhất bởi vì, khi sán xâm nhập vào nhu mô gan chúng tiết ra nhiều kháng nguyên nhất, 2 tuần sau bắt đầu xuất hiện kháng thể (IgG và IgE), nếu thực hiện phản ứng ELISA sẽ dương tính. Cần lưu ý là 6 tháng sau khi khỏi bệnh, ELISA vẫn còn dương tính và 12 tháng sau mới hết hẳn.
Nguyên tắc điều trị
Khi áp-xe gan không điều trị kịp thời có thể áp-xe bị vỡ vào màng phổi, vỡ vào màng bụng, thành bụng gây viêm phúc mạc, nhiễm độc rất nguy hiểm cho tính mạng.
Khi xác định là bệnh do sán lá gan cần điều trị càng sớm càng tốt tránh để xảy ra các biến chứng nguy hiểm. Hiện nay đã có thuốc điều trị đặc hiệu với loại bệnh này, tuy vậy, cần có chỉ định và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa, người bệnh không tự mua thuốc để điều trị.
Trong trường hợp điều trị nội khoa tiến triển chậm có thể kết hợp điều trị ngoại khoa (chọc hút dịch, mủ áp- xe). Công việc này sẽ phải tiến hành ở bệnh viện có đủ điều kiện.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để tránh mắc bệnh, không ăn rau, canh hoặc ốc nấu chưa chín. Không ăn rau sống, không uống nước chưa đun sôi. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn, đặc biệt là sau khi đi vệ sinh.


Dấu hiệu bạn đã mắc bệnh gan

Buồn nôn và chán ăn
Bạn có thể cảm thấy buồn nôn và chán ăn hoặc mất cảm giác ngon miệng khi ăn. Đây cũng có thể là dấu hiệu của bệnh khác, nhưng nó có liên quan đến việc sản xuất và bài tiết mật của gan.
Mật giúp nhũ hóa và cắt nhỏ lipid (chất béo) giúp cho chúng có thể được tiêu hóa. Khi gan gặp sự cố, cảm giác buồn nôn và chán ăn là một trong những dấu hiệu cảnh báo.
Có những dấu hiệu lạ ở vùng bụng
Có những dấu hiệu lạ ở vùng bụng, ví dụ như sưng dưới hạ sườn bên phải, gây áp lực nặng nề lên cơ hoành và khiến bạn đau khi thở. Bụng căng chướng, bệnh gan có thể gây ra bụng báng do ứ đọng dịch trong khoang ổ bụng.
Màu của phân thay đổi
Khi màu của phân thay đổi sang xám, vàng hoặc bạc màu là dấu hiệu của rối loạn chức năng gan. Thường xuyên cảm thấy quặn ruột và đi tiêu đột xuất cũng là một trong những dấu hiệu bệnh gan, các bạn hãy lưu ý ngay nhé!
Bối rối và mất phương hướng
Một trong những chức năng quan trọng nhất của gan là thanh lọc các chất độc ra khỏi máu. Ví dụ khi chúng ta uống thuốc, gan có thể chuyển hóa chúng thành chất vô hại và loại bỏ chúng.
Ngoài ra khi chúng ta ăn các chất đạm (protid), quá trình tiêu hóa sẽ tạo ra chất amoniac gây độc, gan sẽ chuyển hóa và làm cho chúng trở nên vô hại.
Tuy nhiên, khi gan hoạt động không tốt, các chất độc sẽ tích tụ và thậm chí gây ra các vấn đề cho não. Tình trạng này còn được gọi là bệnh não gan (Hepatic Encephalopathy). Người bệnh sẽ hay nhầm lẫn và mất phương hướng.
Nước tiểu đậm màu hơn
Nước tiểu sẫm màu hơn có thể là do bạn uống thuốc gì đó gây nên, hoặc đơn giản có thể chỉ do bạn uống không đủ lượng nước hàng ngày.
Nhưng khi tự dưng thấy màu nước tiểu đậm hơn nhiều so với bình thường và nhất là bạn thấy phân có màu trắng, điều này có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị bệnh gan .
Trong trường hợp này, bạn cần phải khẩn trương đến bệnh viện để được chữa trị khẩn cấp, vì có thể chức năng gan của bạn đă bị suy giảm nghiêm trọng.


Viêm gan B và những điều cần biết

Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy, ước tính khoảng 2 tỷ người trên thế giới được chẩn đoánđã hoặc đang nhiễm virus này, trong đó 350 triệu người bị mãn tính. Hằng năm hơn mộttriệu người chết do các tổn thương gan gây ra bởi virus này (viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan).

592chich-ngua-3144-1440549991.jpg
Ảnh minh họa:Health
Cũng theo WHO, 3/4 dân số thế giới sống trong những vùng lưu hành cao dịch viêm gan B, trong đó có Việt Nam. Tỷ lệ hiện mắc viêm gan B ở nước ta rất cao, ước tính khoảng 8,6 triệu người đang nhiễm, tỷ lệ mạn tính khoảng 8,8% ở nữ và 12,3% ở nam giới.
Việt Nam là vùng dịch tễ lưu hành của viêm gan siêu vi B nên khả năng lây nhiễm bệnh rất cao. Do vậy, nhằm bảo vệ bản thân trước nguy cơ lây nhiễm virus, mọi người cần có kháng thể chống lại virus HBV với nồng độ trong máu ở mức đủ khả năng bảo vệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả của văcxin viêm gan B đạt đến 95% trongngăn ngừa lây nhiễm và các hậu quả mãn tính của nó.
Năm 2005, sau 3 năm triển khai thí điểm, Việt Nam chính thức đưa văcxin viêm gan B trở thành văcxin thứ 7 trong chương trình tiêm chủng mở rộng (cùng với 6 văcxin truyền thống là lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi). Những trẻ sinh sau thời gian này, nếu tham gia đầy đủ các mũi tiêm của chương trình tiêm chủng mở rộng, đa số đều có miễn dịch đầy đủ với viêm gan siêu vi B.
Theo khuyến cáo, người trưởng thành hay trẻ lớn chưa được tiêm văcxin từ chương trình tiêm chủng mở rộng và chưa có kháng thể với viêm gan siêu vi B cũng nên tiêm ngừa sớm. Đặc biệtởnhóm dân số nguy cơ cao lây nhiễm viêm gan B như người thườngtiếp xúc với máu và sinh phẩm (bác sĩ, điều dưỡng), chung sống với người bệnh viêm gan B, người có nhiều bạn tình, nam quan hệ đồng giới, người tiêm chích ma tuý, người nhiễm HIV…
Những năm gần đây, dịch vụ tiêm văcxin có thu phí cũng góp phần tăng thêm lựa chọn cho nhiều gia đình bên cạnhchương trình tiêm chủng mở rộng. Nhìn chung cả 2 loại văcxin đều được đánh giá tương đương nhau về khả năng hình thành miễn dịch, mức độ bảo vệ và độ an toàn.
Các xét nghiệm cần làm trước khi tiêm chủng văcxin viêm gan B
Thông thường, trước khi tiêm văcxin viêm gan B, bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm tầm soát viêm gan B. Cụ thể là:
- HBsAg để tìm kháng nguyên bề mặt của virus (HBV - surface Antigen).
- AntiHBs (hay HBsAb) để tìm kháng thể kháng nguyên bề mặt của virus (HBV surface Antibody).
- AntiHBc để tìm kháng thể kháng kháng nguyên lõi của virus (HBV core antibody).
Kết quả:
Nếu HBsAg dương tính tức là đang nhiễm virus (cấp hay mạn tính) thì không có chỉ định tiêm văcxin.
Nếu HBsAg âm tính, antiHBs dương tính, AntiHBc âm tính: Người này đã miễn dịch nhờ tiêm chủng trước đó.
Nếu HBsAg âm tính, antiHBs dương tính,AntiHBc dương tính: Người này đã có miễn dịch nhờ nhiễm HBV trước đó và khỏi bệnh.
Nếu HBsAg âm tính, antiHBs âm tính: Người này chưa có miễn dịch, không nhiễm bệnh, có chỉ định tiêm văcxin.
Phí tiêm văcxin viêm gan B theo liều ở Viện Pasteur TPHCM
- EUVAX B: Người trên15 tuổi giá 120.000 đồng. Từ 15tuổi trở xuống 80.000 đồng.
- ENGERIX B: Trên 19 tuổi giá 130.000 đồng. Từ 19 tuổi trở xuống là 90.000 đồng.
- HBVAX PRO: Trên19 tuổi 130.000 đồng. Từ 19 tuổi trở xuống 75.000 đồng.
- HEPAVAX-GENE: 120.000 đồng.

Cây chó đẻ răng cưa trị viêm gan virut B

Bệnh viêm gan do virut, đang là một trong những bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất hiện nay. Như ta đã biết có tới 6 loại virut viêm gan: A, B, C, D, E, G. Trong đó, loại B, C, được coi là loại lây lan nhiều nhất. Trong y học cổ truyền, có phương cách dùng cây chó đẻ răng cưa để trị bệnh viêm gan virut B rất hiệu quả.

Vai trò của gan trong hoạt động sống của cơ thể
Gan giữ nhiều chức năng quan trọng trong hoạt động sống của cơ thể. Trước hết giữ vai trò chuyển hóa và tồn trữ các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Quy trình Krebs, một chu trình chuyển hóa cơ bản, cũng được tiến hành chủ yếu ở gan. Thông qua đó, các thành phần dinh dưỡng: protid, lipid, glucid trong thức ăn được chuyển hóa để tạo ra năng lượng (ATP) phục vụ cho mọi hoạt động sống của cơ thể. Gan tiết men, mật (acid mật) giúp tiêu hóa thức ăn, tích lũy glucogen, giúp cho việc điều hòa glucose huyết. Gan đóng vai trò giải độc cho cơ thể, thông qua cơ chế “giáng hóa”, các chất độc được tạo ra các sản phẩm ít độc và được thải ra ngoài theo đường mật và đường thận. 

Khi gan nhiễm virut viêm gan B (HBV), các tế bào gan sẽ bị tổn thương, làm tăng các chỉ số của enzym transaminase: ALT, AST trong máu, làm cho các hoạt động của gan bị trì trệ, kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, kém ăn, buồn nôn. Khi phát bệnh, cơ thể bị sốt, đồng thời với các triệu chứng điển hình: vàng da, vàng mắt, nước tiểu đỏ, đau tức vùng hạ sườn phải... Khi đã có biến chứng chuyển thành xơ gan: bụng trướng to, đau bụng, tiêu chảy, nôn ra máu tươi, kèm theo tụt huyết áp, nặng hơn là hôn mê do suy gan nặng, suy thận cấp, lượng nước tiểu ít dần... Nhiều trường hợp có thể dẫn đến tử vong.

Cây chó đẻ răng cưa.
Cây chó đẻ răng cưa
Chó đẻ răng cưa chữa viêm gan HBV
Chó đẻ răng cưa (Phyllantus urinaria L., tên đồng danh: P. amarus, P. cantoniensis Hornem., P. alatus Blume, họ thầu dầu Euphorbiaceae), cây mang tên này vì người ta thấy những con chó sau khi đẻ thường đi ăn cây này. Cây còn có tên là diệp hạ châu, vì có các hạt tròn nằm dưới lá. Ngoài ra còn có nhiều tên khác: trân châu thảo, diệp hạ châu đắng, diệp hòe thái, lão nha châu...

Chó đẻ răng cưa là cây thuộc thảo, sống hàng năm. Toàn cây có màu xanh. Thân nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành nhỏ, cao khoảng 30-50cm, có khi tới 80cm. Lá mọc so le, lưỡng hệ, trông như lá kép. Phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép nguyên, không cuống hoặc cuống rất ngắn, mặt dưới màu xanh lơ. Hoa đơn tính, nhỏ, hoa đực, mọc thành chùm 2-4 hoa, dọc theo phần ngoại biên của các cành nhỏ, có 6 lá đài hình elip, hoặc trứng ngược. Có 3 nhị, chỉ nhị hợp nhất thành cột mảnh. Hoa cái cùng gốc, dọc theo phần giữa và phần dưới của cành nhỏ, có 6 lá đài hình trứng. Bầu nhụy hình trứng hay hình cầu, có 3 vòi nhụy. Hoa không cuống rất ngắn, mọc ở kẽ lá, hoặc đầu cành, màu đỏ nâu. Quả nang, hình cầu nhỏ, đường kính 2-2,5mm, màu đỏ hơi xám nhạt, xếp thành hàng dọc. Hạt hình ba mặt, hình trứng, màu nâu đỏ, hơi xám nhạt, có vân ngang. Mùa ra hoa từ tháng 4-6. Chó đẻ răng cưa mọc hoang ở nhiều nơi trên nước ta. Hiện đã được trồng với diện tích lớn để lấy nguyên liệu sản xuất thuốc trị viêm gan.

Chó đẻ răng cưa chứa thành phần hóa học gì?

Trong chó đẻ răng cưa có các thành phần flavonoid, alcaloid phyllanthin và các hợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin.

Các nhà khoa học đã chứng minh dịch chiết của Phyllantus, có tác dụng ức chế mạnh HBV, thông qua cơ chế ức chế enzym ADNp (ADNpolymerase) của HBV, làm giảm HbsAg và Anti- HBs.

Công dụng của chó đẻ răng cưa

Chó đẻ răng cưa được nhân dân ở nhiều nước dùng để trị mụn nhọt, đinh râu, chữa rắn cắn; có thể dùng đắp ngoài, uống trong; đặc biệt còn dùng trị sốt, lợi tiểu, đái tháo đường, u xơ tuyến tiền liệt, viêm âm đạo, khó tiêu, viêm đại tràng và chữa bệnh viêm gan vàng da. 

Trong những năm gần đây, trên thế giới và trong nước có nhiều công trình đã sử dụng cây thuốc này để trị viêm gan B. Với liều 900mg/ ngày, có tới 50% yếu tố lây truyền của HBV trong máu đã mất đi sau 30 ngày sử dụng vị thuốc này. Để trị viêm gan vàng da, có thể dùng chó đẻ răng cưa 40g, mã đề 20g, dành dành 12g, sắc uống. 

Trên thị trường Việt Nam cũng có nhiều chế phẩm trị viêm gan do HBV, trong thành phần có chó đẻ răng cưa. Ngoài ra, còn dùng chữa lở loét, mụn nhọt không liền miệng: Lá chó đẻ răng cưa, lá thồm lồm ăn tai, lượng bằng nhau, đinh hương 1 nụ, giã nát, đắp vào chỗ đau.

Người ta cho rằng chó đẻ răng cưa có tác dụng ức chế mạnh HBV- DNA (virut viêm gan B trên hệ mã di truyền) và làm cho virut bị đào thải, không bám vào được ADN của người. Những bệnh nhân viêm gan do HBV sau khi sử dụng thuốc có chó đẻ răng cưa, được phục hồi enzym transaminase từ 50-97%, bilirubin toàn phần trở về bình thường.

Trong khi sử dụng chó đẻ răng cưa để trị viêm gan HBV, cần chú ý phân biệt với một cây khác cùng họ, cũng mang tên chó đẻ răng cưa, còn có tên cam kiềm phyllantus niruri L., phân bố ở một số tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng (Thái Bình, Hải Dương...). Về hình dạng thực vật, cây này cũng giống như cây thân xanh nói trên, song cây chỉ cao khoảng 5-10cm; thân, cành có màu tía đỏ, quả có màu đỏ. Nhân dân thường dùng toàn cây, sắc đặc lấy nước ngậm chữa đau răng lợi, hôi miệng, thông tiểu, thông sữa, đôi khi cũng dùng trị viêm gan vàng da.

Men gan tăng cao gây nguy hiểm gì?

Chậm trễ trong điều trị tăng men gan có thể dẫn đến suy gan, xơ gan, thậm chí tử vong. Do đó, cần lưu ý phòng và điều trị kịp thời triệu chứng tăng men gan bảo vệ sức khỏe.

Men gan cao - mức độ hủy hoại tế bào gan ở mức báo động
Anh Nguyễn Trung, 35 tuổi, TPHCM, nhân viên kinh doanh của một công ty xuất nhập khẩu. Vì đặc thù công việc, anh phải giao tiếp, thường xuyên dùng rượu bia. Trong lần khám sức khỏe tháng 6 vừa rồi, anh nhận kết quả xét nghiệm bị tăng men gan với chỉ số 2700 U/l. 
Để điều trị giảm men gan, bác sĩ khuyên anh kết hợp dùng thuốc và thay đổi lối sống, điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là kiêng rượu bia. Sau lần tái xét nghiệm, men gan của anh đã giảm thấy rõ.
Kịp thời phát hiện và điều trị sớm, triệu chứng tăng men gan chưa gây ra các bệnh nguy hiểm với anh Trung. Tuy nhiên, TS.BS. Phạm Thị Thu Thủy, Trưởng khoa Gan, Trung tâm Y khoa Medic, cho biết: rất nhiều người hiện nay, do không phát hiện sớm tăng men gan dẫn đến những tổn thương gan nặng như xơ gan, suy gan thì việc điều trị vô cùng khó khăn.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Trong nhóm xét nghiệm chức năng gan, giúp đánh giá một cách tổng quát tình trạng hoạt động của gan và hệ thống đường mật thì có xét nghiệm men gan. Men gan liên quan đến tình trạng viêm và hoại tử tế bào gan, men gan là chỉ số nói lên mức độ hủy hoại của tế bào gan. Men gan càng cao thì mức độ hủy hoại càng tăng. Tăng men gan có thể do nhiều nguyên nhân do virút, vi trùng, hóa chất, uống nhiều rượu bia... Trong đó, lạm dụng rượu bia được xem là nguyên nhân chủ yếu.
Nếu men gan tăng nhẹ dưới 2 lần thì người bệnh hầu như chưa có biểu hiện triệu chứng gì, chỉ được đánh giá qua xét nghiệm với hai chỉ số chính là men ALT (Alanin Amino Transferase) và men AST (Aspartate Amino Transferase). Chỉ số bình thường trong máu khoảng < 30 U/l . Khi chỉ số các men ALT, AST gia tăng trong máu báo hiệu tế bào gan đang bị phá hủy. Từ đó, dẫn đến giảm khả năng làm việc của gan, suy gan, ảnh hưởng hoạt động các cơ quan khác trong cơ thể như thận, tim…
Tăng men gan là triệu chứng của nhiều bệnh, do đó cần điều trị theo từng nguyên nhân. Trong đó, TS.BS. Thu Thủy lưu ý đến tác hại của việc lạm dụng rượu bia “phá hoại” lá gan vì khiến lượng acetaldehyt là chất độc được sản sinh ra khi sử dụng bia rượu phá hủy tế bào gan tăng rất nhanh, nặng có thể gây viêm gan cấp, hôn mê gan, nguy hiểm đến tính mạng.
“Chặn” men gan tăng từ sớm
TS.BS. Thu Thủy cho rằng, cần ngăn chặn tăng men gan bằng phương pháp khoa học từ lúc còn là nguy cơ để bảo vệ lá gan.
Để bảo vệ lá gan khỏe mạnh, bạn cần chú ý tới chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt hợp lý: nên bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A (cà rốt, hẹ, tỏi tây, bắp cải), vitamin B1 (giá, hoa quả, đậu, lạc, rau xanh), vitamin B2 (hạt kê, đậu nành, trứng, sữa), các thực phẩm chứa nhiều protein (thịt nạc, cá); không ăn da, mỡ động vật, các thực phẩm chứa nhiều đường, nhiều dầu mỡ, tránh các gia vị cay nóng; kiêng rượu, bia và các đồ uống có cồn, không hút thuốc lá. Bên cạnh đó, nên nghỉ ngơi hợp lý, tập thể dục nhẹ nhàng, không thức khuya, giải quyết tốt áp lực, stress…
Mỗi người nên chủ động theo dõi sức khỏe và khám sức khỏe định kỳ để phát hiện tăng men gan. Người bị men gan cao nên thực hiện đúng chỉ định và dùng thuốc theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc, đồng thời, kiểm tra định kỳ để được bác sĩ theo dõi và đánh giá sự tiến triển của bệnh để giúp tế bào gan nhanh tái sinh, tăng cường chức năng miễn dịch, thúc đẩy phục hồi chức năng gan.



Một số thuốc gây nhiễm mỡ gan

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng nhiễm mỡ ở gan. Thông thường hơn 90% các trường hợp gan nhiễm mỡ diễn ra âm thầm, mạn tính và trong thời gian dài.

Tuy nhiên, các trường hợp gan nhiễm mỡ cấp tính thì lại tiến triển nhanh và nguy cơ gây tử vong cao. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng gan nhiễm mỡ cả cấp tính và mạn tính là do sử dụng thuốc. Vậy thuốc nào có nguy cơ gây ra bệnh lý này?
Tetracycline: Tetracycline dùng qua dạng uống có thể gây ra thâm nhiễm mỡ dạng bọng nhỏ, thường không để lại hậu quả về lâm sàng. Sự xuất hiện và mức độ của thoái hóa mỡ có mối liên hệ chặt chẽ với liều dùng; cần chú ý trong khi dùng tetracycline đường tĩnh mạch ở phụ nữ có thai có nguy cơ cao gây suy gan và tử vong.
Bệnh nhân cần tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ, tránh tự ý dùng thuốc.
Bệnh nhân cần tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ, tránh tự ý dùng thuốc.
Valproic acid: Thuốc chống co giật acid valproic có thể gây bất thường ở gan sau dùng thuốc 2 - 4 tháng.
Amiodarone: Việc sử dụng chất này thường liên quan đến sự tăng nồng độ aminotransferase trong huyết thanh. Trị liệu lâu dài có thể gây ra thâm nhiễm mỡ dạng bọng lớn ở gan và những biến đổi bệnh học tương tự trong viêm gan do rượu.
Glucocorticoids: Glucocorticoid dùng liều cao có thể gây ra gan nhiễm mỡ. Tác động này phần lớn xuất hiện ở trẻ em. Nguyên nhân chính gây ra gan nhiễm mỡ là do tăng giải phóng acid béo từ các mô mỡ. Gan nhiễm mỡ có thể hồi phục khi ngưng glucocorticoid.
Ngoài ra còn rất nhiều thuốc khác có thể gây nhiễm mỡ ở gan như methotrexat (thuốc ức chế miễn dịch dùng trong điều trị ung thư), estrogen (thường dùng trong ngừa thai), perhexilin (thuốc trị cơn đau thắt ngực).
Do đó, khi bệnh nhân buộc phải dùng một trong các loại thuốc nêu ở trên, cần phải tuân thủ theo điều trị của bác sĩ và phải được theo dõi chức năng gan định kỳ.

Cách thải độc gan, thận đơn giản, hiệu quả

Gan và thận là 2 bộ phận quan trọng nhất trong cơ thể có tác dụng thải độc tố ra ngoài. Đồng thời bạn cũng cần thường xuyên thải độc gan, thận giúp chúng hoạt động tốt hơn.

Dấu hiệu cảnh báo gan bị nhiễm độc
- Làn da đổi màu vàng tái, nhợt nhạt
- Phân và nước tiểu có màu bất thường
- Hơi thở “có mùi”
- Đắng miệng
-Nóng trong người, mụn nhọt, mẩn ngứa
- Táo bón, mệt mỏi, chán ăn
3 cách giải độc gan đơn giản
Gan là bộ phận trực tiếp lọc các chất độc của cơ thể rồi “tống khứ” nó ra bên ngoài để giúp cơ thể khỏe mạnh không bị nhiễm độc.
Tuy nhiên, khi làm việc trong 1 thời gian dài bản thân gan cũng sẽ bị nhiễm độc do đó, bạn nên thường xuyên thải độc để giúp gan khỏe mạnh.
Uống nước mướp đắng
Mướp đắng vị đắng, ngọt, tính bình có tác dụng thanh nhiệt, giải độc làm mát gan. Đồng thời các hoạt chất của mướp đắng có tác dụng giảm men gan, bổ gan, bổ mật. Do đó, bạn nên thường xuyên uống nước mướp đắng để thải độc gan.
Nếu khó uống bạn có thể thêm chút đường hoặc ăn mướp đắng hàng ngày bằng các món xào, ướp lạnh,… theo sở thích của mình.
Uống nước ép củ cải đường
Củ cải đường cũng là 1 thực phẩm giúp cơ thể bạn thải độc gan rất hiệu quả, làm tăng lưu lượng máu trong cơ thể, giúp gan hoạt động tốt hơn.
Do đó, hàng ngày bạn có thể dùng 1 cốc nước ép củ cải nhỏ để thải độc gan hàng ngày, tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.
Ăn rau họ cải
Các loại rau họ cải như cải xanh, cà rốt, củ cải, cải xoắn, bắp cải,…được xem là thực phẩm thải độc gan hiệu quả và an toàn nhất cho bạn. Nhờ vào chất lưu huỳnh chúng sẽ tăng khả năng giải độc cho gan và giúp gan khỏe mạnh hơn.
Thường xuyên ăn các món rau họ cải sẽ giúp bạn có lá gan khỏe mạnh.
Dấu hiệu cảnh báo thận của bạn cần được thải độc
- Tiểu nhiều lần, đặc biệt là về đêm
- Nước tiểu nặng mùi, đậm màu
- Ngứa ngáy khó chịu
- Người bị phù, tăng cân
- Mệt mỏi và táo bón
Cách giải độc thận bằng dấm táo
Dấm táo được biết đến với nhiều công dụng tuyệt với của nó từ giảm cân, thải độc cơ thể, thải độc gan,…thận vô cùng hiệu quả.
Sở dĩ dấm táo được xem là thực phẩm có khả năng thải độc thận tốt nhất là do acid acetic giúp làm sạch những mảng bám trong thận làm thông thoáng ống thận.
Cách dùng: Trộn 1 - 2 thìa café với thức ăn phù hợp để ăn hàng ngày. Bạn nên ăn ngày 3 lần những món ăn có trộn cùng với dấm để thải độc thận tốt nhất.
Lưu ý: Tuyệt đối không uống dấm táo trực tiếp sẽ gây hại cho dạ dày và thực quản (có thể bị bỏng thực quản nếu dùng lượng dấm lớn để uống trực tiếp).
Để có loại dấm táo ngon, đúng chuẩn bạn nên tự làm tại nhà là tốt nhất.
Cách làm giấm táo:
- Mua loại táo chín, tươi ngon
- Táo đem rửa sạch, tráng qua với nước sôi để ráo
- Thái táo thành các lát mỏng sau đó xếp táo vào bình thủy tinh
- Đổ nước sôi còn hơi ấm vào ngập táo chừng 1cm
- Cho thêm 4 thìa cafe đường vào lọ táo
- Cài vỉ nén vào lọ để táo không nổi lên trên sau đó bịt miệng lọ bằng 1 miếng vải trắng sạch.
- Sau 7 ngày nước dấm sẽ có màu vàng rất đẹp mắt. Nếu có váng nổi lên bạn dùng thìa sạch, khô để hớt lớp váng này đi.
- Bảo quản dấm ở nơi thoáng mát, để thêm 6 tuần nữa là bạn đã có lọ dấm táo chuẩn để sử dụng.


Gan bị nhiễm độc như thế nào?

Khi gan bị nhiễm độc, nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của gan mà nó còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác trong cơ thể con người

Gan là một cơ quan rất quan trọng trong cơ thể con người mà không bộ phận nào có thể thay thế được. Nếu gan bị tổn thương, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chuyển hóa chất dinh dưỡng và thải độc trong cơ thể, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta. Một trong những nguyên nhân khiến gan bị tổn thương là do bị nhiễm độc.
 
Muôn đường gan bị nhiễm độc
 
Gan thường được mệnh danh là “cơ quan tổng vệ sinh” lớn nhất, giúp lọc và loại thải chất độc ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, nếu lượng độc tố đưa vào cơ thể vượt mức cho phép sẽ khiến gan bị quá tải, gây tổn thương, suy giảm chức năng gan, thậm chí là gây bệnh cho gan.
 
Gan bị nhiễm độc có thể xảy ra ở nhiều người, từ người có chế độ dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho đến những ai thường xuyên vô tình “tiêm” độc cho gan vì nhiều lý do. Điển hình như các vị sếp càng lớn hay nhân viên sales làm càng lâu năm, gan càng dễ nhiễm độc vì phải kết thân với bia, rượu… những chất cồn độc hại, kẻ thù số 1 của gan.
 
Rượu là một trong những nguyên nhân gây gan bị nhiễm độc

 
Ngoài ra, chế độ thức khuya, “cú đêm” của nhân viên văn phòng và các bạn trẻ hiện nay cũng gây tổn hại đến sức khoẻ của gan. Họ thường thức rất khuya để tỉ mẩn với báo cáo cần phải làm gấp, lướt Facebook, chơi game… hay đơn giản đó là thói quen khó bỏ.
 
Từ 23g đến 1g sáng, đó là khi gan bắt đầu lọc và đào thải các chất độc trong cơ thể nên chúng ta cần ngủ thật sâu để gan có thể thanh lọc cơ thể tốt nhất. Nếu thức quá khuya xem như chúng ta cắt bớt thời gian làm việc của gan, công việc thanh lọc cơ thể sẽ bị tồn đọng và việc gan bị quá tải là hiển nhiên.
 
Việc ăn các loại thức ăn có hại cho cơ thể như các thức ăn nhiễm độc, nhiễm các loại hóa chất… cũng là những nguyên nhân gây hại cho gan nhanh chóng.
 
Người bệnh nên làm gì?

 
Khi gan bị nhiễm độc, chức năng gan sẽ yếu đi khiến cơ thể người bệnh luôn trong trạng thái mệt mỏi, khó chịu… Để giải độc cho gan cần xuất phát từ nguyên nhân gây bệnh, tùy vào nguyên nhân và tình trạng cụ thể của người bệnh mà có biện pháp chữa trị thích hợp.
 
Đối với các trường hợp nhiễm độc gan do rượu bia hay do chế độ ăn uống thì chỉ cần kiêng rượu bia và điều chỉnh chế độ ăn uống là tổn thương gan sẽ giảm đi. Người bệnh cũng nên nghỉ ngơi điều độ, hạn chế làm việc quá sức và thức khuya mà khiến bệnh tình thêm trầm trọng hơn.
 
Hiện nay đã có rất nhiều loại thuốc có tác dụng bổ gan và làm mát gan, hộ trợ cho bệnh nhân bị tổn thương gan, song theo khuyến cáo của các bác sĩ, người bệnh không nên tự ý dùng thuốc bởi cho dù là thuốc hỗ trợ gan thì cũng đều phải chuyển hóa qua gan. 

Nếu người bệnh dùng thuốc không đúng hoặc không phù hợp thì có thể sẽ có tác dụng ngược lại, gây hại cho gan nhiều hơn. Vì thế, người bệnh hãy hỏi ý kiến của bác sĩ chuyên gan để nhận được những lời tư vấn cụ thể và chính xác nhất cho bệnh tình của mình.


9 cách giải độc gan hiệu quả

Giấm táo giúp giải độc gan, hỗ trợ giảm cân. Uống một ly nước với một thìa giấm táo vào sáng sớm để gan thêm khỏe mạnh.
 
Nghệ là thảo dược có nhiều lợi ích với sức khỏe. Củ nghệ kích hoạt các enzym trong gan, ngăn ngừa ung thư gan.
 
Trà xanh giàu chất chống oxy hóa giúp loại bỏ các chất béo tích tụ trong gan. Uống trà xanh hàng ngày là cách tốt nhất để đẩy độc tố ra khỏi gan.
 
Trái bơ tăng cường sức khỏe gan bằng cách bảo vệ chống lại các chất độc.
 
Tiêu thụ cải bắp mỗi ngày giúp thúc đẩy hoạt động lành mạnh của gan và loại bỏ độc tố.
 
Quả óc chó chứa nhiều axit amin và axit béo omega 3, giúp giải độc gan.
 
Rau bina là một trong những loại thực phẩm rất có lợi trong việc duy trì lá gan khỏe mạnh. Rau bina cũng chứa nhiều gluthatione lọc gan.
 
Tỏi rất giàu allicin và selen hỗ trợ làm sạch gan, đẩy các độc tố ra khỏi cơ thể.
 
Nước chanh tốt cho mật, giúp loại bỏ chất độc trong gan

Ai cũng có thể bị gan nhiễm mỡ

Hiện nay trong phòng khám tiêu hóa gan mật, bệnh gan nhiễm mỡ khá thường gặp, số người mắc bệnh ngày càng có xu hướng tăng.

Trước đây bệnh này thường gặp ở người lớn tuổi nhưng hiện nay nhiều người trẻ đã mắc bệnh, thậm chí trẻ con cũng mắc bệnh này.
Gan nhiễm mỡ là bệnh tương đối lành tính ở gan do lượng mỡ tích tụ trong gan vượt quá 5% cân nặng của gan.
Người gầy ốm, giảm cân nhanh vẫn bệnh
Đa số còn có quan niệm: chỉ người mập mới bị gan nhiễm mỡ, trong khi thực tế khoảng 20% người bị gan nhiễm mỡ không hề mập, thậm chí còn có khuynh hướng gầy ốm, là do dinh dưỡng không tốt làm thiếu các chất đạm cần thiết để vận chuyển mỡ khỏi gan.
Sau đây là các nguyên nhân thường gặp gây bệnh:
- Hàng đầu là do rượu bia (90% số người thường uống rượu bia sẽ bị gan nhiễm mỡ).
- Thừa cân - béo phì - rối loạn mỡ máu.
- Đái tháo đường.
- Viêm gan B và viêm gan C   mãn tính.
- Dùng các thuốc gây độc cho gan. Cần chú ý là dùng quá liều các vitamin tan trong dầu, nhất là vitamin A, có thể gây nên gan nhiễm mỡ và thoái hóa mỡ ở gan. Một loại thuốc khác cũng gây tích tụ mỡ ở bụng và gan làm gan nhiễm mỡ là thuốc có chứa hoạt chất corticoid (có trong thành phần các thuốc trị hen suyễn, khớp và đông dược không rõ nguồn gốc).
- Suy dinh dưỡng
- Giảm cân quá nhanh (trên 1kg/tuần).
Bệnh có nguy hiểm không?
Qua thực tế khám chữa bệnh, hơn 2/3 trường hợp gan nhiễm mỡ chúng tôi biết là do người bệnh được phát hiện khi khám sức khỏe định kỳ hoặc khi khám bệnh vì một bệnh lý khác như đái tháo đường hay cao huyết áp chứ không hề có triệu chứng gì cả. 
Biểu hiện nếu có và thường gặp nhất là mệt mỏi, cảm giác tức nặng vùng gan (vùng dưới bờ sườn bên phải) và có thể làm gan to ra. Muốn chẩn đoán bệnh, người ta thường chỉ định siêu âm bụng và xét nghiệm máu để đánh giá men gan, chức năng gan và một số xét nghiệm khác tìm nguyên nhân.
Có người hỏi chúng tôi rằng bệnh gan nhiễm mỡ nguy hiểm không, câu trả lời là cần dựa vào nguyên nhân gây bệnh cụ thể. Nếu do rượu bia thì khả năng diễn tiến thành viêm gan mãn và xơ gan là cao (trên 50%) nên có thể nói là nguy hiểm. Còn nếu do nguyên nhân khác thì chỉ khoảng 10 - 15% diễn tiến thành viêm gan mãn và xơ gan.
Bệnh hoàn toàn có thể điều trị nếu biết nguyên nhân và người bệnh cần kiên nhẫn vì quá trình hồi phục của gan có thể kéo dài, có khi cần đến 1 - 2 năm.
Yêu lấy lá gan
Nếu không may mắc bệnh, chúng ta vẫn có thể yêu thương lá gan của mình bằng những cách như sau:
- Tham vấn với bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa gan mật.
- Tránh xa bia rượu.
- Không ăn các loại thức ăn nhanh như gà rán, hamburger, xúc xích, lạp xưởng...
- Hạn chế các thức ăn có nhiều chất béo bão hòa và cholesterol:
+ Tránh các món chiên xào, thay bằng món luộc.
+ Tránh ăn nội tạng động vật, da gà, da vịt, da heo.
+ Hạn chế trứng: chỉ 2 - 3 quả/tuần.
+ Hạn chế uống sữa chưa tách béo hoặc bơ, phômai.
- Nên ăn uống đầy đủ cả 3 nhóm thức ăn, không nhịn ăn quá mức:
+ Nên ăn bánh mì lạt, bánh quy lạt, các loại rau, củ đã nấu chín, đặc biệt là bắp.
+ Nên ăn các loại đậu, thịt nạc như thịt heo, thịt gà vịt, cá.
+ Hạn chế chất béo.
- Không ăn uống các thực phẩm có nhiều đường.
- Ăn nhiều rau xanh (ít nhất 300 gam rau xanh mỗi ngày như xà lách, dưa leo, bông cải xanh) và trái cây (200 gam quả chín tươi như táo, dâu tây, thơm...).
- Ăn chocolate đen (85% là chocolate) hay uống 1 - 2 tách cà phê đen không đường hằng ngày.
- Ăn thêm các loại rau quả có tác dụng giống như “thuốc giảm mỡ”, chống các gốc oxy hóa: cà chua, rau ngót, cần tây, tỏi, bắp chuối, chanh, cam, quýt, bưởi, trà xanh.
- Tập thể dục thường xuyên: ít nhất 15 - 30 phút mỗi ngày và 5 ngày/tuần.