8 thực phẩm rẻ tiền giúp giải độc gan
Trang Heath khuyến cáo một số thực phẩm giúp thải độc gan và bạn nên bổ sung vào khẩu phần ăn hàng tuần:
Tỏi
Chỉ một lượng nhỏ tỏi cũng có thể kích hoạt các enzyme trong gan giúp cơ
thể thải độc tố. Tỏi chứa nhiều allicin và selenium, hai hợp chất tự
nhiên giúp làm sạch gan.
Bưởi
Chứa nhiều vitamin C và các chất ôxy hóa, bưởi giúp tăng cường quá trình
thải độc tự nhiên của gan. Một ly nước ép tươi mỗi ngày giúp đẩy nhanh
quá trình sản sinh ra các enzyme thải độc gan, đào thải các chất gây ung
thư và các chất độc khác.
Một số thực phẩm giúp làm sạch gan. Ảnh: WP
|
Củ cải và cà rốt
Hai loại rau củ trên đều chứa nhiều chất chống ôxy hóa có nguồn gốc thực
vật và beta carotene. Vì thế, ăn củ cải và cà rốt có thể giúp kích
thích cải thiện chức năng gan.
Trà xanh
Loại đồ uống này rất tốt cho gan, chứa nhiều chất chống ôxy hóa nguồn
gốc thực vật là catechins có tác dụng hỗ trợ chức năng gan.
Các loại rau lá xanh
Được coi là một trong những thực phẩm có tác dụng thải độc tốt nhất cho
gan, rau lá xanh bạn có thể ăn sống, nấu chín hoặc ép nước uống. Với khả
năng đặc biệt trung hòa các kim loại nặng, chất hóa học và thuốc trừ
sâu, các loại thực phẩm sạch này giúp bảo vệ gan.
Bơ
Loại quả được mệnh danh là siêu thực phẩm dinh dưỡng này giúp cơ thể sản
sinh ra các glutathione, chất chống ôxy hóa rất cần thiết cho gan để
loại bỏ chất độc hại.
Táo
Giàu pectin, táo giúp cơ thể làm sạch và giải phóng các độc tố trong hệ
thống tiêu hóa, giúp cải thiện chức năng gan, thải các chất độc trong cơ
thể.
Dầu oliu
Các loại dầu như oliu, hạt cải, hạt lanh... rất tốt cho gan khi sử dụng ở
mức vừa đủ, giúp cơ thể hấp thụ chất độc hại trước khi chúng ảnh hưởng
đến cơ thể. Bằng cách này, nó giúp gan giảm bớt gánh nặng.
8 triệu người Việt sẽ bị viêm gan siêu vi B vào năm 2020
Theo thống kê của Bộ Y tế, bệnh nhân mắc viêm gan siêu vi B chiếm 8-25% dân số, ước tính đến năm 2020 sẽ có 8 triệu người Việt nhiễm virus viêm gan B mạn tính.
Ảnh minh họa: News
|
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh viêm gan do virus là
nguyên nhân thứ 7 gây tử vong trên toàn cầu. Hiện nay có từ 6 đến 10
triệu người mắc bệnh này, 1,4 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó nhiều
nhất là viêm gan virus C
(48%), B (47%), còn lại là viêm gan A và E. Nhóm người tiêm chích ma
túy có nguy cơ lây nhiễm cao nhất do tình trạng dùng chung bơm kim
tiêm, ước tính trong số 16 triệu người tiêm chích ma túy có khoảng 10
triệu trường hợp nhiễm virus viêm gan C.
Bộ Y tế khuyến cáo, viêm gan virus đứng thứ ba trong số nguyên nhân gây
tử vong ở nước ta, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là viêm gan siêu vi B.
Điều tra gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm có
tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B và C cao trong quần thể dân cư nói chung,
chịu hậu quả nặng nề của bệnh. Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B trung bình
8-25%, viêm gan C 2,5-4,1%. Bên cạnh đó còn ghi nhận các trường hợp viêm
gan A, D, E. Đặc biệt trong nhóm người tiêm chích ma túy có đến 54% mắc
viêm gan siêu vi C.
Tỷ lệ dân cư mắc bệnh này có sự khác nhau giữa các địa phương. Cao nhất ở
Hà Bắc 25,5%, tiếp đến là Vĩnh Phúc 23,2%, Lâm Đồng 16,74%, Khánh Hòa
15,48%, TPHCM 11,3%... Tình hình nhiễm virus viêm gan B ở nhóm phụ nữ có
thai khá cao. Đây là yếu tố quan trọng gây viêm gan B ở trẻ sơ sinh và
là nguyên nhân chính gây viêm gan mạn tính ở trẻ. Các nghiên cứu cho
thấy 90% trẻ mắc viêm gan B sau khi sinh hoặc trong những năm đầu đời có
nguy cơ chuyển thành viêm gan B mạn tính. Đây được xem là vấn đề y tế
nghiêm trọng.
Cục Y tế Dự phòng nhìn nhận hậu quả lâu dài của nhiễm viêm gan virus dẫn
tới bệnh gan mạn tính, xơ gan, ung thư gan làm tăng gánh nặng chi phí
cho ngành y và toàn xã hội.
Trong khi đó công tác dự phòng và điều trị bệnh này ở nước ta còn nhiều
khó khăn, nhất là ở tuyến y tế huyện, xã thiếu cơ sở vật chất, thiết bị
điều trị và thuốc men. Đơn vị đủ năng lực điều trị viêm gan tập trung
chủ yếu ở các bệnh viện tuyến cuối tại các tỉnh thành lớn.
Riêng viêm gan C chưa có văcxin ngừa, việc điều trị chủ yếu là dùng
thuốc nhưng bệnh nhân viêm gan C khó có cơ hội tiếp cận các loại thuốc
kháng virus mới do giá thành cao, chưa được Bảo hiểm y tế chi trả hoặc
chưa được cấp phép lưu hành tại Việt Nam. Mặt khác, việc không tuân thủ
đầy đủ phác đồ điều trị có thể làm giảm hiệu quả điều trị.
Bệnh viêm gan virus B hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu sử dụng
văcxin sớm và đúng quy định, do vậy Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo tất
cả trẻ em nên được tiêm phòng văcxin viêm gan B. Đối với trẻ em ở khu
vực có tỷ lệ nhiễm virus viêm gan B cao như nước ta, nên tiêm trong vòng
24 giờ sau khi sinh và các liều sau đó theo đúng lịch tiêm chủng.
Trong bối cảnh gánh nặng bệnh gan do virus ngày càng nặng nề, WHO kêu
gọi sự chung tay của các quốc gia trong việc phòng chống bệnh với mục
tiêu không còn lây truyền viêm gan virus trên thế giới, tất cả bệnh nhân
đều được chăm sóc và điều trị an toàn, hiệu quả.
Ở góc độ khác, TS Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung
ương, lo ngại những năm gần đây xảy ra một số trường hợp tai biến liên
quan đến tiêm chủng khiến nhiều phụ huynh hoang mang không cho con em đi
tiêm. Các bệnh viện cũng ngại triển khai tiêm ngừa vì lo sợ rủi ro. Từ
đó dẫn đến tỷ lệ tiêm văcxin giảm hẳn. Đây là một trong những nguyên
nhân khiến các bệnh truyền nhiễm gia tăng, trong đó có viêm gan.
Theo bà Hồng, tỷ lệ tai biến do tiêm chủng ở nước ta trong giới hạn cho
phép của WHO, dù vậy ngành y tế đang nỗ lực triển khai những giải pháp
nhằm giảm thiểu nguy cơ này. Thời gian qua, Bộ Y tế tổ chức nhiều lớp
tập huấn cho cán bộ tiêm chủng nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu sốc phản
vệ sau tiêm, xử trí kịp thời, đúng phương pháp sẽ cứu sống được các trẻ
bị tai biến nặng. Bên cạnh đó còn hướng dẫn phụ huynh cách phát hiện sớm
các dấu hiệu tai biến để kịp thời đưa đến cơ sở y tế xử trí theo đúng
phác đồ.
Khảo sát của WHO tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ bệnh viêm gan C gia tăng
do phần lớn người dân và bệnh nhân thiếu kiến thức về bệnh nên không có
khái niệm về tầm soát, điều trị và phòng ngừa lây lan. Rất nhiều người
bệnh chủ quan cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm virus này nên không
tiến hành các xét nghiệm sớm, vô tình lây truyền mầm bệnh cho những
người xung quanh.
Virut viêm gan C – sát thủ ung thư thầm lặng
Nhiều bệnh nhân biết đến bệnh viêm gan B nhưng lại bỏ qua viêm gan C.
Theo các chuyên gia, nếu viêm gan B, là bệnh không thể trị dứt điểm và
không quá nguy hiểm thì viêm gan C là căn bệnh trong yên lặng, có thể
điều trị dứt điểm nhưng lại có tính sát thủ rất mạnh. Nếu không kịp thời
phát hiện và điều trị, bệnh nhân viêm gan C dễ dàng chuyển sang xơ gan
và ung thư gan.
Virut siêu vi C: cực kì nguy hiểm
Theo TS.BS Phạm Thị Thu Thủy, Trưởng khoa Gan BVĐK Medic thì cùng với
viêm gan A và B, viêm gan C cũng là một trong những bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm. Và dù tần suất mắc bệnh viêm gan siêu vi C ít gặp hơn so với
bệnh viêm gan do virut A và B nhưng virut viêm gan C tỏ ra uy lực và có
những tấn công gây tác hại lớn cho gan. Nếu không kịp thời phát hiện và
điều trị đúng cách, người mang bệnh rất dễ dàng chuyển qua giai đoạn xơ
gan, ung thư gan.
Theo BS Thủy, viêm gan C được xem là một căn bệnh “yên lặng”. Khi người
bệnh nhiễm bệnh, virut viêm gan C đi từ máu đến gan và trú ngụ ở đó. Nó
tấn công và gây hại lên gan rất lớn nhưng các triệu chứng viêm gan C
thường không có biểu hiện rõ ràng; chỉ có thể nhận biết được bệnh khi có
các xét nghiệm và chẩn đoán chuyên sâu.
Nhóm xét nghiệm để nhận biết cơ thể có bị nhiễm virut viêm gan C hay
không là anti-HCV. Đây là loại kháng thể do cơ thể tạo ra để phản ứng
lại với virut viêm gan C. Nếu xét nghiệm cho thấy anti-HCV dương tính
thì chứng tỏ bệnh nhân đã hoặc đang bị nhiễm siêu vi C. Tuy nhiên, để
kiểm tra chính xác về mức độ tổn thương gan thì sẽ có các xét nghiệm
khác như HCV ARN, siêu âm, CT Scan, MRI, sinh thiết gan…
Thông thường, bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C thường có khả năng tự hết
bệnh mà không cần điều trị. Gan sẽ tự điều tiết ra các kháng thể để
chống lại và tiêu diệt virut viêm gan C. Dấu hiệu duy nhất cho thấy gan
đã miễn dịch được virut này là sự hiện diện của kháng thể chống virut
siêu vi C trong máu. Đáng tiếc là chỉ có khoảng 15-30% người bị nhiễm
virut siêu vi C có khả năng chống chọi và vượt qua giai đoạn nhiễm bệnh,
hơn 70% là không thắng nổi và chuyển sang giai đoạn mạn tính, nặng hơn
trước.
Ở giai đoạn mạn tính, virut bắt đầu có những tấn công gây tổn thương gan
nặng nề và xuất hiện các triệu chứng như sốt cao, người bị đau cơ, đau
khớp, mệt mỏi, vàng da… Virut gây ra tổn thương và tăng nồng độ của men
gan (AST và ALT) trong máu. Gan bị xơ hóa trên diện rộng và phá hỏng
những chức năng quan trọng của gan là chuyển hóa và giải độc, dẫn đến xơ
gan. Giai đoạn này nếu không có những biện pháp điều trị tích cực sẽ
dẫn đến biến chứng cho gan và gây ung thư gan. Viêm gan C có diễn biến
thầm lặng, có thể mắc bệnh kéo dài trong thời gian 10 hoặc 20 năm.
Đã tiêm ngừa viêm gan B – liệu có bị nhiễm virut C?
Nhiều người thắc mắc, nếu đã chủng ngừa viêm gan siêu vi B thì liệu có
bị nhiễm virut viêm gan C? BS Thủy cho biết: nếu đã tiêm ngừa virut viêm
gan siêu vi B thì chỉ có tác dụng ngăn ngừa lây nhiễm siêu vi này. Còn
viêm gan C là một loại siêu vi hoàn toàn khác hẳn và chưa có chủng ngừa
tiêm phòng; do đó đểngăn ngừa lây nhiễm viêm gan siêu vi C, bạn nên áp
dụng các phương pháp tránh phơi nhiễm viêm gan C như: không dùng chung
vật dụng cá nhân với người bệnh, quan hệ tình dục an toàn…
Bác sĩ Thủy cũng chia sẻ: Với những tiến bộ của y học hiện nay, bệnh
viêm gan siêu vi C là hoàn toàn có thể điều trị và chữa khỏi. Vì vậy
việc tầm soát và nhận biết được bệnh sớm để theo dõi, điều trị kịp thời
là rất quan trọng. Tuy nhiên, việc xét nghiệm và chẩn đoán bệnh viêm gan
siêu vi C ở nước ta có chi phí khá cao nên bệnh nhân thường ngần ngại
và không đi kiểm tra, xét nghiệm theo định kì.
Thực tế nếu viêm gan C càng được phát hiện sớm bao nhiêu thì khả năng
điều trị khỏi càng cao bấy nhiêu. Ngoài ra, người bệnh nên lựa chọn
những cơ sở y tế đáng tin cậy để có kết quả kiểm tra chính xác. Đồng
thời, tự bảo vệ bản thân thông qua việc điều chỉnh chế độ sinh hoạt, ăn
uống hợp lý và thường xuyên vận động để cơ thể có sức đề kháng tốt.
6 nguyên nhân gây suy gan mà bạn không ngờ tới
Rượu thường bị qui là thủ phạm gây suy gan. Tuy nhiên, có những yếu tố khác có thể làm suy yếu gan và cuối cùng khiến nó không hoạt động.
1. Hội chứng chuyển hóa
Hội chứng chuyển hóa là
một nhóm các yếu tố nguy cơ như huyết áp cao, cholesterol cao, mỡ bụng,
đường huyết cao, chu vi vòng bụng lớn. Những yếu tố nguy cơ này làm
tăng khả năng bị các bệnh tim mạch và tiểu đường típ 2.
Mặc dù, tất cả mọi người đều ý thức được điều này, nhưng ít người biết
rằng hội chứng chuyển hóa cuối cùng có thể gây suy gan. Trên thực tế, nó
là một nguyên nhân chính của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu.
Quá nhiều glucose hoặc đường trong máu được tích trữ thành mỡ trong gan,
có thể dẫn tới gan nhiễm mỡ, viêm và để lại sẹo. Sau một thời gian, gan
kém hoạt động và dẫn tới suy. Nếu các tĩnh mạch gan bị tổn hại, nó có
thể hạn chế lưu thông máu và dẫn đến tăng huyết áp kịch phát đe dọa tính
mạng.
Phòng tránh: Bạn nên thường xuyên kiểm tra sức khỏe và tư vấn bác sĩ nếu
bạn có bất cứ yếu tố nguy cơ nào. Cách này không chỉ giúp bạn phòng
tránh được các bệnh tim mạch và tiểu đường mà còn cải thiện sức khỏe của
gan.
2. Nhiễm virus
Các nhiễm trùng virus phổ biến nhất có thể dẫn tới suy gan là viêm gan B và C. Ngoài ra, còn có nguy cơ gắn liền với viêm gan A. Bệnh mụn rộp không được điều trị cũng có thể dẫn tới suy gan.
Phòng tránh: Suy gan do viêm gan có thể phòng trách được bằng cách tiêm
phòng, điều trị sớm và uống thuốc theo chỉ định hoặc quan hệ tình dục an
toàn. Nhớ là bạn có thể bị viêm gan C nếu quan hệ tình dục không có
biện pháp bảo vệ.
3. Béo phì
Béo phì là một tình trạng mạn tính và có thể dẫn tới những rối loạn sức
khỏe khác nhau bao gồm gan nhiễm mỡ. Dư thừa chất béo tích tụ trong gan
có thể dẫn tới gan nhiễm mỡ, từ đó gây tổn thương cho các tế bào gan.
Điều này dẫn tới xơ gan hoặc sẹo trong gan và cuối cùng là suy gan.
Phòng tránh: Nếu bạn có chỉ số BMI cao và béo phì, bạn cần kiểm soát
trọng lượng của mình. Ăn uống hợp lý, luyện tập thường xuyên và có thể
lựa chọn phẫu thuật giảm cân. Tuy nhiên, đây nên là lựa chọn cuối cùng.
Duy trì chỉ số BMI khỏe mạnh có thể giúp bạn tránh những biến chứng của
bệnh tiểu đường, tim mạch và hơn nữa là phòng tránh suy gan.
4. Các loại thuốc
Một số thuốc kê đơn gồm kháng sinh, các thuốc chống viêm không steroid
và chống co giật có thể gây suy gan cấp. Những người bị bệnh lao và uống
thuốc trong thời gian dài cũng có thể có nguy cơ cao hơn.
Phòng tránh: Dừng uống thuốc và hỏi ý kiến bác sĩ về những rắc rối với
thuốc kê đơn bạn gặp. Một số người dễ bị phản ứng với những loại thuốc
nhất định hơn so với những người khác. Vì vậy cần thảo luận chi tiết với
các bác sĩ về loại thuốc bạn uống và những nguy cơ của nó đối với những
cơ quan quan trọng trong cơ thể.
5. Các bệnh tự miễn
Viêm gan tự miễn là tình trạng các tế bào miễn dịch của cơ thể tấn công
các tế bào gan và phá hủy chúng. Đây là tình trạng mạn tính và dẫn tới
viêm và tổn thương gan. Khi hệ miễn dịch tấn công những tế bào gan khỏe
mạnh, nó có thể dẫn đến xơ gan, là tình trạng các mô sẹo thay thế mô gan
khỏe mạnh và làm tắc nghẽn lưu thông máu tới gan.
Phòng tránh: Khi hệ miễn dịch của cơ thể chống lại bạn, sẽ rất khó để
ngăn chặn. Nhưng nhờ chẩn đoán đúng và điều trị thích hợp, tình trạng
này có thể được kiểm soát hiệu quả. Tuy nhiên, trong một số trường hợp,
ghép gan có thể trở nên cần thiết để đối phó với tình trạng này.
6. Bổ sung thảo dược
Đôi khi các thảo thuốc thảo dược không kê đơn được cho là an toàn cũng
có thể là mối đe dọa cho gan. Các độc tố hoặc hóa chất trong các chế
phẩm thảo dược có thể khiến gan dần dần bị sẹo và tổn thương.
Phòng tránh: Không dùng các loại thuốc thảo dược nhất là trong thời gian dài mà không tham khảo ý kiến bác sĩ.
Đừng coi thường gan nhiễm mỡ
Những câu chuyện về mỡ trong gan
Nghe tới gan nhiễm mỡ,
người ta thường có sự liên tưởng tới một bệnh nhân béo phì… Quả đúng
như vậy, 70% bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ là do bệnh béo phì, thế nhưng
không hiếm những người có vóc dáng mảnh mai, thân hình ốm yếu cũng bị
gan nhiễm mỡ.
Người mẫu N.H là một trường hợp ví dụ điển hình. Cô luôn được mời biểu
diễn ở các sự kiện lớn vì có vóc dáng khá chuẩn. Tuy nhiên, khi bắt đầu
bước qua tuổi 30, phát hiện vòng 2 của mình xuất hiện những ngấn mỡ dư
thừa, cô áp dụng một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Kết quả thật mãn nguyện, nhưng sau một thời gian, khi đi khám tổng quát, cô phát hiện mình bị gan nhiễm mỡ.
Trường hợp thứ hai là của một giáo viên trung học, 40 tuổi, ăn chay
trường. Anh bắt đầu ăn chay từ cách đây hơn 10 năm, rất hiếm khi anh
đụng đến bia, rượu hay thuốc lá. Không những thế, anh còn thường xuyên
tập thể dục vào buổi sáng, chạy bộ ngoài công viên để hít thở không khí
trong lành.
Tuy nhiên, khi siêu âm gan, bác sĩ phát hiện anh bị gan nhiễm mỡ độ 1.
Anh sững sờ và nghĩ kết quả có sự nhầm lẫn nên chủ động đề nghị bác sĩ
cho chụp CT. Kết quả cũng tương tự. Để chắc chắn hơn nữa, anh xin làm
sinh thiết gan và kết quả không khác hai lần trước.
Ở cả hai trường hợp trên, bệnh nhân đều không ngờ tới gan nhiễm mỡ bởi
họ: không dư cân béo phì, không nghiện bia rượu và cũng không bị đái
tháo đường, vậy đâu là nguyên nhân? Trên thực tế, không chỉ những người
có thân hình gầy gò mà ngay cả trẻ em cũng có thể bị gan nhiễm mỡ.
Truy tìm nguyên nhân?
Gan nhiễm mỡ hay còn gọi là gan thoái hóa mỡ là tình trạng ứ đọng mỡ
trong gan do nhiều nguyên nhân.Bình thường lượng mỡ chiếm khoảng 3-5%
trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ mức độ nhẹ khi lượng mỡ trong gan
chiếm từ 5% đến 10%, nếu từ 10% đến 25% là nhiễm mỡ mức độ vừa, còn khi
vượt quá 30% là nhiễm mỡ nặng. Mức độ gan nhiễm mỡ cũng phụ thuộc vào
bệnh chính gây ra và việc người bệnh tuân thủ chế độ điều trị bệnh như
thế nào.
Có nhiều nguyên nhân gây ra gan nhiễm mỡ, điển hình như: nghiện rượu,
tình trạng cơ thể dư cân béo phì; bệnh lý đái tháo đường hoặc dùng nhiều
các loại thuốc có hại cho gan… Tuy nhiên, không chỉ những trường hợp
béo phì, thừa chất, lười vận động mới là những đối tượng có tỷ lệ gan
nhiễm mỡ cao, ngay kể cả những người gầy gò cũng có thể là nạn nhân của
gan nhiễm mỡ.
Ở người bị gan nhiễm mỡ, chất béo không chỉ đơn thuần dư thừa bên dưới
lớp da mà còn hiện diện xung quanh cơ quan nội tạng chẳng hạn như gan,
dưới dạng những túi chất béo li ti. Những bệnh nhân gầy gò, ốm yếu, suy
dinh dưỡng, hay áp dụng chế độ giảm cân quá nhanh cũng là một nguyên
nhân khiến cho bệnh gan nhiễm mỡ bùng phát. Khi cơ thể thiếu chất cũng
đồng nghĩa với việc thiếu một số chất cần thiết để thanh lọc bớt mỡ.
Người ăn ít hay ăn kiêng quá mức sẽ khiến lượng đường trong máu thấp khi
đó cơ thể sẽ tự điều chỉnh tăng hấp thu mỡ để phân giải thành năng
lượng, nếu lười vận động mỡ sẽ tích tụ mà không được chuyển hóa, axit
béo đi vào máu nhiều, vượt quá mức cho phép sẽ gây ra gan nhiễm mỡ.
Gan nhiễm mỡ, sát thủ thầm lặng
Gan nhiễm mỡ không phải là một bệnh mà là biểu hiện lâm sàng của nhiều
bệnh lý khác nhau. Trước đây người bệnh có tâm lý rất coi thường gan
nhiễm mỡ vì người ta cho rằng sẽ không gây ra các biến chứng nguy hại.
Đây là một quan niệm sai lầm.
Theo BS.CKII Trần Ngọc Lưu Phương - Trưởng đơn vị tiêu hóa can thiệp BV
Nguyễn Tri Phương cho biết: Gan chính là nơi tổng hợp chất béo. Nếu vì
lý do nào đó khiến chất béo không được vận chuyển kịp thời ra khỏi lá
gan thì sẽ tích lũy trong nhu mô gan, chiếm chỗ của tế bào gan, gây ra
nhiễm mỡ.
Mặc dù gan nhiễm mỡ đúng là một biểu hiện lành tính, sẽ không nguy hiểm
nếu như được phát hiện sớm và có can thiệp kịp thời. Tuy nhiên, biểu
hiện này diễn biến âm thầm, cơ thể người bệnh sẽ dần thích nghi với
những triệu chứng bệnh lý nên thường bỏ qua, do vậy khi phát hiện, bệnh
sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm.
Diễn tiến nặng của gan nhiễm mỡ có thể gây xơ gan, dẫn đến ung thư gan. Ở
các giai đoạn sau, người bệnh thường thấy rất mệt mỏi, uể oải, đầy hơi,
khó chịu, chán ăn, ngứa ngáy, làm việc lười biếng, không tập trung và
sức khỏe suy giảm rõ rệt... Đáng nói là phần lớn bệnh nhân lúc đó đã có
vấn đề với rối loạn biến dưỡng chất béo thể hiện qua triệu chứng tăng mỡ
trong máu, tăng men gan, tăng ure huyết…
Đặc biệt, không nên coi thường bệnh gan nhiễm mỡ vì đây là một trong
những nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan, sau virút viêm gan B, C...
Ngoài việc thực hiện một chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục thường xuyên
thì những người bị gan nhiễm mỡ cần phải đi kiểm tra gan định kỳ để có
thể nắm rõ tình trạng mỡ trong gan của mình thế nào, từ đó có các cách
điều trị hợp lý để tránh nguy cơ biến chứng. Khi đã phát hiện gan nhiễm
mỡ trên siêu âm, người bệnh nên đi khám ở các cơ sở y tế để được xác
định nguyên nhân cũng như đánh giá giai đoạn của bệnh để có thể điều trị
một cách đúng đắn nhất.
Ung thư gan: Cách phát hiện và phòng bệnh
Ung thư gan gồm
ung thư nguyên phát và ung thư thứ phát. Ung thư gan nguyên phát là
xuất phát từ tế bào gan hoặc tế bào ống mật. Ung thư gan thứ phát là ung
thư di căn từ các nói khác đến như ung thư dạ dày, ung thư đại tràng, tụy, thực quản…
Những nguyên nhân
- Viêm gan virút B: khi viêm gan B sẽ gây đột biến ADN ở nhân tế bào gây ung thư.
- Viêm gan virút C: viêm gan C sẽ gây viêm gan mạn và dẫn đến ung thư gan.
- Nhiễm độc aflatoxin: có trong đậu mốc, thức ăn ôi thiu.
- Nhiễm dioxin: gây đột biến tế bào và gây nên ung thư.
- Nhiễm các hóa chất độc hại khác.
- Viêm gan do rượu: lâu ngày dẫn đến xơ gan, ung thư gan.
Đốt u gan qua da dưới hướng dẫn siêu âm bằng RFA
Cách phát hiện
Bệnh nhân mắc ung thư gan giai đoạn đầu rất khó phát hiện vì không có
triệu chứng. Về sau hay đau tức dưới sườn bên phải, ăn uống chậm tiêu,
đôi khi có sốt. Khi sờ thấy gan to ở vùng dưới sườn phải, hoặc vàng da,
báng bụng là đã ở giai đoạn muộn.
Chẩn đoán thường dựa vào siêu âm bụng, CT, hoặc chụp MRI vùng bụng. Siêu
âm là phương tiện dễ thực hiện, không nguy hại, giá thành rẻ, chẩn đoán
chính xác ung thư gan khoảng 90%. CT cho thấy việc phân tích hình ảnh
dễ dàng hơn và chẩn đoán ung thư gan nguyên phát chắc chắn hơn. Nhưng
phương tiện này đắt tiền, khó thực hiện hơn siêu âm, người bệnh phải vào
bệnh viện mới thực hiện được.
-Xét nghiệm máu chủ yếu đo nồng độ AFP trong huyết thanh là một loại
alphafeto protein có trong thời kỳ bào thai khi lớn lên thì do gan tiết
ra. AFP tăng cao trong ung thư gan nguyên phát, tăng > 500 ng/ml: gần
như chắc chắn là ung thư gan nguyên phát. AFP được sử dụng trong một
thời gian dài để chẩn đoán ung thư gan nguyên phát, là một trong các xét
nghiệm tầm soát ung thư gan.
AFP có dương tính giả trong một số trường hợp bệnh lý mô gan: viêm gan
siêu vi cấp, bệnh gan mãn, xơ gan, di căn gan. Tuy nhiên, những nghiên
cứu gần đây cho thấy AFP có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp. AFP có thể tăng
trong bệnh lý ung thư đường mật trong gan và ung thư đại tràng di căn
gan.
- Định lượng DCP (des-y-carboxylprothrombin) còn được gọi là PIVKA-II,
một loại protein prothrombin tăng bất thường trong máu ở bệnh nhân ung
thư gan nguyên phát. Độ nhạy và độ chuyên đối với u < 5 cm thay đổi
từ 0,14 - 0,54 và 0,95 - 0,99 ở giá trị ngưỡng 40 mAU/ml và 0,07 - 0,56;
0,72 - 1.0 ở ngưỡng giá trị 100 mAU/ml.
Định lượng AFP với giá trị ngưỡng 200 ng/ml cùng với DCP có giá trị ngưỡng là 40 mAU/ml cho độ nhạy 48% và độ đặc hiệu 99%.
DCP kết hợp với protein p53 để tiên đoán ung thư gan nguyên phát kích thước nhỏ.
Sinh thiết gan cho giá trị chẩn đoán xác định nhưng chỉ sử dụng ở cơ sở y tế.
Cắt gan do ung thư tại BVĐK Quảng Ngãi
Điều trị
Khi mắc bệnh ung thư gan, tùy từng trường hợp u to hay nhỏ mà có chỉ
định điều trị thích hợp. Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị ung
thư gan như: đốt u gan bằng sóng cao tần, bằng microwave, bằng công nghệ
Nano; bơm hóa dầu làm tắc mạch; phẫu thuật cắt khối u gan.
Phòng bệnh
Nên đi khám siêu âm bụng định kỳ 3 - 6 tháng/ lần. Sau khi siêu âm có
kết quả nghi ngờ ung thư gan thì nên nhập viện để chụp CT hoặc MRI theo
chỉ định của bác sĩ. Khi mắc bệnh viêm gan B, C, phải đến bác sĩ chuyên
khoa điều trị triệt đễ bệnh lý này.
- Tránh dùng chung bơm kim tiêm với người nhiễm viêm gan B; tránh ăn
uống cùng chung thìa, muỗng, chén, bát với những người viêm gan C.
- Ăn uống tránh các thức ăn nhiễm hóa chất, đậu mốc. Hạn chế bia, rượu, thức uống có nồng độ cồn cao.
Muốn túi mật khỏe mạnh, phải làm sao?
Để duy trì sức khỏe cho bộ phận này chúng ta không chỉ cần một chế độ ăn
uống hợp lý, lành mạnh mà còn cần phải có kiến thức để phát hiện sớm
bệnh của túi mật. Túi mật là một bộ phận rất nhỏ, một cơ quan nội tạng
hữu ích cho hệ thống tiêu hóa của cơ thể. Để duy trì sức khỏe cho bộ
phận này chúng ta không chỉ cần một chế độ ăn uống hợp lý, lành mạnh mà
còn cần phải có kiến thức để phát hiện sớm bệnh của túi mật.
Túi mật có hình quả lê có chiều dài từ 8-10cm, chiều rộng khoảng 4cm,,
treo ngay dưới thùy phải của gan, có chức năng như một túi lưu trữ dịch
mật cho cơ thể.. Mỗi ngày gan tổng hợp được khoảng 500 - 1000ml dịch mật
cho cơ thể, khi chuyển tới túi mật, nó được cô đặc lại và lưu trữ ở đây
khoảng 30-50ml dịch mật. Khi chúng ta ăn, dịch mật tiết ra đi vào phần
ruột non, tá tràng thông qua các ống mật để tiêu hóa thức ăn. Nên mặc dù
là một bộ phận rất nhỏ của cơ thể nhưng đóng vai trò quan trọng trong
hệ thống tiêu hóa của con người.
Bệnh về túi mật
Đa phần các bệnh về túi mật là sỏi túi mật, polyp túi mật, hoặc rối loạn
vận động túi mật, ung thư túi mật( thường hình thành từ một polyp túi
mật).
Sỏi mật là sự tích tụ các thành phần của dịch mật, chủ yếu là
cholesterol, canxi, bilirubin mà thành. Khi sỏi túi mật to sẽ gây tắc
đường mật, thậm chí gây viêm túi mật. Triệu chứng của bệnh sỏi túi mật
thường là sụt cân nhanh, đau bụng dữ dội, nhất là sau những bữa ăn nhiều
chất béo. Các cơn đau thường xuất hiện ở khu vực bên phải bụng, phía
dưới, bên dưới ức, đau có thể lan xuống lưng. Cơn đau kéo dài vài giờ và
có thể kèm theo buồn nôn. Tuy nhiên cũng có người bệnh bị đau âm ỉ bên
phải, rất dễ nhầm với một rối loạn ở dạ dày, ợ hơi. Có đến 80% những
người bị sỏi túi mật không có biểu hiện gì cho đến khi bệnh nặng.
Những người có nguy cơ cao mắc sỏi túi mật là những người béo phì, theo
bác sĩ Gilbert, giảm cân quá nhanh cũng có thể gây sỏi mật. Phụ nữ có
thai, người mắc các rối về máu có ảnh hưởng đến việc sản sinh huyết sắc
tố như bệnh thiếu máu hồng cầu lưỡi liềm, người mắc bệnh này có mức độ
bilirubin cao trong cơ thể dễ dẫn đến bệnh sỏi mật. Nếu trong gia đình
có người mắc sỏi mật, nguy cơ mắc bệnh cũng tăng gấp 2 lần so với những
người khác. Một số loại thuốc như thuốc ngừa thai cũng có thể làm tăng
nguy cơ mắc sỏi mật.
Trong trường hợp nghi ngờ sỏi mật, bệnh nhân cần được siêu âm, đây là
cách thức dễ dàng, đơn giản và rất hiệu quả để phát hiện bệnh sỏi mật
hoặc bệnh viêm túi mật.
Polyp túi mật là một dạng u trên bề mặt túi mật, đa phần là các u lành
tính. Đây là một dạng tổn thương trên bề mặt túi mật, nó cũng được hình
thành do sự tích tụ các cholesterol. Tuy nhiên bên cạnh u bề mặt túi mật
tự sinh ra còn có loại polyp tạo u giả, nó là sự lắng đọng cholesterol.
Trong nhiều trường hợp bệnh nhân không cần can thiệp mà chỉ cần thay
đổi chế độ ăn, giảm ăn chất béo. Tuy nhiên với những u giả, người bệnh
cần được theo dõi bởi các bác sĩ chuyên khoa cứ 3-6 tháng, nếu phát hiện
bất cứ bất thường nào, bác sĩ sẽ can thiệp kịp thời.
Làm thế nào để có túi mật khỏe mạnh
Một chế độ ăn uống lành mạnh sẽ đem lại sức khỏe tốt nhất cho túi mật.
Theo TS Cathleen Khandelwal, bác sĩ phẫu thuật tại Bệnh viện Cleveland
cho biết: "Hầu hết sỏi túi mật được hình thành từ cholesterol, vì vậy
một chế độ ăn uống với hàm lượng cholesterol thấp, ít chất béo là tốt
nhất cho sức khỏe của túi mật,".
Thực tế cho thấy, chế độ ăn uống để có một là "trái tim khỏe mạnh" cũng
phù hợp với một "túi mật khỏe mạnh". Có nghĩa là sử dụng chất béo lành
mạnh không bão hòa, như các loại hạt, quả bơ, dầu ô liu, đậu phộng...
Những loại chất béo không no được khuyên dùng như trong các loại cá, quả
óc chó, hạt lanh và dầu thực vật.
Tránh xa các loại thực phẩm làm tăng mức cholesterol sẽ làm giảm nguy cơ
mắc sỏi mật; Ăn uống điều độ cũng là một phần của chế độ ăn duy trì sức
khỏe cho túi mật bởi mật thường được tích tụ trong một thời gian nhất
định rồi mới tiết ra khi ta ăn. Nếu ăn 1 bữa quá nhiều chất dinh dưỡng
hay quá no sẽ làm mật quá tải, dễ hình thành sỏi mật.
Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra việc thường xuyên bổ sung vitamin C
giúp ngăn ngừa bệnh sỏi mật. Ngoài ra sử dụng cà phê cũng giúp chống lại
việc hình thành sỏi mật với người có chế độ ăn nhiều cholesterol.
Tóm lại, túi mật là cơ quan quan trọng trong nội tạng cơ thể, khi bị
bệnh sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hệ tiêu hóa, nhưng nếu biết cách phòng
ngừa và phát hiện sớm khi mắc bệnh, khả năng chữa khỏi bệnh rất khả
quan.
Thần dược chữa xơ gan tại nhà không cần thuốc Tây
Giấm táo. giấm táo có tác dụng giải độc gan hiệu quả. Giấm táo giúp
chuyển hóa các chất béo dễ dàng, Trộn đều giấm táo, mật ong, chanh và
uống hỗn hợp này mỗi ngày chữa xơ gan.
Quả chùm ruột. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of
Chinese Integrative Medicine (Trung Quốc) cho biết, chất chống ôxy hóa
dồi dào trong quả chùm ruột có tác động tích cực đến quá trình điều trị bệnh gan
Rễ cây bồ công anh. Rễ Bồ công anh là một trong các thảo dược giải độc
tốt nhất. Nó loại thải các chất cặn bã ở gan và túi mật, kích thích thận
thải độc tố qua nước tiểu và kích thích giải độc tố đều đặn do nhiễm
trùng hoặc chất ô nhiễm. Món rau trộn làm từ lá có thể dùng để giải độc.
Nghệ. Các nhà khoa học phát hiện rằng, chất curcumin - một trong những
thành phần chính có trong củ nghệ - dường như có khả năng làm trì hoãn
những tổn hại về gan, là nguyên nhân dẫn đến bệnh xơ gan
Đu đủ. Đây là phương thuốc an toàn và hữu hiệu nhất giúp trị bệnh gan.
Thêm nửa thìa cà phê nước cốt chanh với 2 muỗng cà phê nước ép đu đủ,
uống hỗn hợp này trong vòng 4 tháng để thoát khỏi những vấn đề về gan.
Rau bina. Rau bina cũng là một trong những bài thuốc hiệu quả điều trị
bệnh xơ gan. Hòa lẫn nước ép rau bina với nước ép cà rốt. Uống hỗn hợp
nước ép này 3 lần/ngày trong khoảng thời gian 3 tháng để điều trị bệnh
xơ gan.
Trà xanh. Đồ uống này là một trong những giải pháp tuyệt vời để chữa
bệnh gan. Trà xanh chứa catechins giúp hỗ trợ chức năng gan. Uống trà
xanh mỗi ngày giúp loại bỏ các vấn đề về gan.
Những thói quen gây nguy hại cho gan
Gan được ví như cỗ máy chuyển hóa kỳ diệu nhất trong cơ thể con người,
đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, giải độc và duy trì các
diễn tiến của sự sống. Gan cũng tạo ra mật, một chất dịch màu nâu hơi
xanh lục cần thiết cho sự tiêu hóa (đặc biệt là tiêu hóa các loại lipid,
dầu mỡ). Vì thế, khi gan bị tổn thương, các bộ phận khác trong cơ thể
cũng bị ảnh hưởng và dễ dàng nhiễm bệnh. Dưới đây là một số nguyên nhân
dễ gây hại đến gan.
Thói quen uống rượu bia
Khi uống rượu, chất cồn được hấp thu nhanh chóng vào máu qua niêm mạc dạ
dày và ruột. Toàn bộ lượng máu ở đường tiêu hóa đều phải đi qua gan
trước khi về tim. Vì vậy, gan là nơi tập trung nồng độ cồn cao nhất. Tế
bào gan có hệ thống men chuyển hóa, biến đổi cồn qua chuỗi phản ứng hóa
học để tạo ra CO2 và nước. Song khả năng của gan chỉ có thể xử lý được
lượng cồn nhất định. Vì thế, những người nghiện rượu, bia có nguy cơ cao
bị các bệnh về gan cao hơn bình thường.
Virus viêm gan B
Trên thực tế, một số quan niệm sai lầm cho rằng, chỉ có bia rượu mới
gây nguy hại gan. Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),
nguyên nhân hàng đầu do các tác nhân bên ngoài như siêu vi trùng hay virus viêm gan A,
B, C, D, E. Trong đó, viêm gan B do virus HBV là một sát thủ thầm lặng.
Đa số người bị nhiễm viêm gan B không biết mình bị nhiễm. Vì thế, họ có
thể vô tình lây lan qua nhiều người bằng nhiều đường khác nhau.
Tổn thương gan do thực phẩm bẩn
Gan cũng bị tổn thương bởi các loại thuốc kháng sinh để
điều trị những bệnh khác nhau như lao, viêm. Ngoài ra, việc sử dụng
thực phẩm bị ô nhiễm, nguồn gốc không rõ ràng, chứa nhiều hóa chất độc
hại, thức ăn đường phố không đảm bảo vệ sinh cũng là tác nhân gây tổn
hại gan.
Một khi gan bị tổn thương thì dễ dẫn đến men gan cao, viêm gan, xơ gan
|
Môi trường ô nhiễm
Môi trường bị ô nhiễm cũng là kẻ thù của gan. Sống trong môi trường bị ô
nhiễm bởi khí thải độc hại, làm việc thường phải tiếp xúc với hóa chất,
khói thuốc lá buộc gan phải gồng mình phân giải các chất. Dưới tác động
lâu dài của các yếu tố ấy, gan phải hoạt động liên tục dẫn đến quá tải,
tế bào gan bị tổn thương, chức năng giải độc bị suy giảm.
Biện pháp bảo vệ gan
BS Trần Ngọc Lưu Phương - Trưởng đơn vị Tiêu hóa can thiệp, BV Nguyễn
Tri Phương TPHCM kể lại, cách đây 10 năm từng điều trị cho một bệnh nhân
nam là giáo viên, 40 tuổi bị gan nhiễm mỡ. Anh này không hiểu mình
nhiễm bệnh do đâu bởi anh sống rất điều độ, chưa từng uống bia rượu hay
hút thuốc lá. Thậm chí, anh thực hiện chế độ ăn uống vệ sinh và chuẩn
mực, tập thể dục đều đặn...
Sau nhiều lần trò chuyện, bác sĩ mới biết vào mùa hè, gia đình anh có
thói quen dùng nước ngọt thay cho nước uống thông thường. Bác sĩ Phương
đã cảnh báo bệnh nhân về thói quen nguy hại này. Sau lần đó, anh duy trì
chế độ ăn uống khoa học, điều trị kịp thời nên lá gan được phục hồi và
khỏe mạnh trở lại.
Cũng theo bác sĩ Phương, ở Việt Nam, viêm gan do virus chiếm tỷ lệ rất
cao. Do vậy, chủng ngừa cho trẻ sơ sinh là việc đầu tiên mà bố mẹ cần
thực hiện. Tối thiểu đến năm 18 tuổi, mỗi người cần có một lần xét
nghiệm tổng quát, kiểm tra chức năng gan nhằm phát hiện sớm các triệu
chứng để điều trị. Bên cạnh đó, bác sĩ Phương lưu ý những điều sau:
- Lựa chọn các loại thực phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn vệ sinh.
- Sử dụng thêm các thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thiên nhiên giúp giải độc và tăng cường chức năng gan.
- Không sử dụng rượu bia, kể cả là rượu đắt tiền bởi có một số người cho
rằng chỉ có các loại bia rượu giả mới gây hại. Đó là quan niệm sai lầm
- Việc sử dụng thuốc, dù là tây y hay đông y mà không theo chỉ định của
bác sĩ cũng là một cách hại gan, nhất là các loại kháng sinh, kháng
viêm.Nguyên nhân phổ biến gây gan nhiễm mỡ và cách phòng hiệu quả nhất
Gan nhiễm mỡ là căn bệnh viêm gan dứng thứ hai sau bệnh viêm gan B, hiện nay đã đe dọa nghiêm trong tới sức khỏe và an toàn của người dân.
| Gan nhiễm mỡ là căn bệnh viêm gan dứng thứ hai sau bệnh viêm gan B. |
Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả gan nhiễm mỡ. Đó có thể là do
các bệnh lý về chuyển hóa, thói quen uống nhiều bia rượu, do sự rối loạn
về dinh dưỡng và cả việc sử dụng thuốc.
Bệnh gan nhiễm mỡ có dấu hiệu ngày càng tăng do môi trường và thói quen ăn uống của chúng ta đã thay đổi.
Chúng ta không còn phải ăn uống kiêng khem, dè chừng mà bắt đầu nhận
thức được ăn ngon, ăn no... Bên cạnh đó, việc các quán nhậu mọc lên ngày
càng nhiều và thói quen của không ít doanh nhân là bàn việc trên bàn
nhậu.
Tuy nhiên, tất cả các nguyên nhân nói trên cũng không thể khiến cho gan
nhiễm mỡ trở thành một đại dịch như con số thống kê cho thấy rằng hiện
có hơn 90% các trường hợp khám sức khỏe có kết quả siêu âm là gan nhiễm
mỡ.
Tác hại của gan nhiễm mỡ
Gia tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ do sự
trao đổi chất và chuyên hóa kém, ro đó dấn đến rối loạn điều hòa và
truyển đổi chất trong cơ thể. Trong số những người mắc bệnh tiểu đường
và đồng thời mắc phải gan nhiễm mơ chiếu khoảng 50%, do vậy có thể thấy
gan nhiễm mỡ có liên quan mật thiết tới bệnh tiểu đường.
Dẫn đến xơ gan thậm chí là ung thư gan, gan nhiêm xơ thường kèm theo sự
biến di của tế bào gan. Cùng theo sự trôi đi của thời gan, sẽ gây ra sự
tái sinh của tế bào gan bị rối loại và hoải tử, dần dần đấn đến xơ gan,
tỉ lề xơ gan dấn đến ung thư gan là rất cao.
Suy giảm hệ miễn dịch và chức năng giải độc, gan nhiễm mỡ có thể khiến
hệ nhiễm dịch của lá gan bị sụp giảm, hơn nữa bệnh gan nhiễm mỡ thường
kèm theo sự phì đại của lá tì. Lá tì to sẽ khiến chức năng dì bị khắng
chấn đấn đến chức năng tì bất thường, và ức chế chức năng nhiễm dịch của
tế bào gan.
Nguy hại đến phụ nữ đang mang thai và tính mạng của thai nhi, gan nhiễm
mỡ trong phụ nữ mang thai trên lâm sang tuy là không thường gặp, những
sự nguy hại của nó vo cùng to tác, thường thì phát sinh ở thài kỳ 36-40
tuần. tị lệ tử vong của gan nhiễm mỡ trong phụ nữ mang thai là khá cao,
do nguyên nhân gây bệnh phúc tạp, mức độ tiến triển nhanh, và sự biến
chứng của nó nguy hiểm.
Gây huyết áp cao, xơ cứng độ mạch, chức năng chuyển đổi của người bệnh
người bệnh gan nhiễm mỡ bị rỗi loạn, chất Triglycerides trong máu cao,
thường kèm theo chỉ số lipid máu tăng cao, độ dính của máu tăng cao, túc
đẩy sự hình thành của xơ cứng động mạch.
Dẫn đến viêm túy mật, do tổn thương chức năng gan, về lâu về giài sẽ gây
ảnh hưởng tớ tì, mật, dạ dày, ruột, thường gặp nhất là ảnh thưởng đến
chức năng túy mật, trong những người bệnh gan nhiễm mỡ thì có 20-30%
thường kèm theo bệnh viêm túy mật mãn tính, sỏi mật.
Triệu chứng
Người bệnh có thể cảm thấy mệt mỏi, hoạt động trở nên yếu ớt, cơ thể khó
chịu và hay buồn nôn. Khi đi khám có thể thấy lá gan bị sưng to hơn
bình thường. Trong một số trường hợp, người bệnh có thể bị vàng da.
Việc điều trị gan nhiễm mỡ không thể chỉ điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật, đặc biệt là nếu gan nhiễm mỡ không do rượu.
Gan nhiễm mỡ: khi nào dùng thuốc?
Hiện nay gan nhiễm mỡ là vấn đề nhiều người quan tâm do tỷ lệ xuất hiện ngày càng tăng, nhất là khi kinh tế phát triển và lối sống tạo ra thói quen ăn uống, sinh hoạt không tốt.
Bệnh lành tính nhưng dễ gây họa
Gan nhiễm mỡ là tình trạng tích tụ mỡ quá mức bình thường trong các tế bào gan, làm cho cân nặng của gan tăng hơn 5%. Chất mỡ này là từ các bộ phận khác của cơ thể đi đến gan, hoặc do tăng hấp thu mỡ từ ruột đưa lên gan. Cũng có thể do gan giảm khả năng chuyển hoá và loại trừ mỡ ra khỏi gan. Sự tích tụ mỡ bất thường này lâu ngày có thể ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của gan.
Gan nhiễm mỡ không chỉ là một bệnh lành tính đơn thuần (gặp trong đa số trường hợp, không làm tăng men gan, bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt) mà còn có thể gây viêm gan tiến triển dẫn đến xơ gan, sau đó là ung thư gan nếu không được chữa trị và theo dõi đúng cách (thể gan nhiễm mỡ nặng này được gọi là viêm gan thoái hoá mỡ).
Có nhiều bệnh liên quan đến tình trạng gan nhiễm mỡ làm cho chúng ta khó xác định đâu là nguyên nhân gây ra bệnh. Các yếu tố làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ bao gồm: nghiện rượu nặng, tăng cân quá mức, bệnh đái tháo đường týp hai, tăng cholesterol hoặc triglyceride trong máu, dinh dưỡng tồi hoặc mắc một số chứng bệnh (như bệnh lao, mổ nối tắt ruột để chữa béo phì), sụt cân nhanh, tiếp xúc với một số độc chất, uống một số thuốc (như các corticosteroid, thuốc ngừa thai, kháng sinh).
Những người uống quá nhiều rượu lâu năm có thể bị các tổn thương gan do rượu, trong số này có gan nhiễm mỡ. Nếu tiếp tục uống rượu, có thể dẫn đến viêm gan cấp hoặc mạn và nặng nhất là xơ gan do rượu.
Ít triệu chứng, lắm nguy cơ
Gan nhiễm mỡ có nhiều nguyên nhân và có thể xếp thành ba loại: gan nhiễm mỡ do rượu, gan nhiễm mỡ do thuốc, và gan nhiễm mỡ do lối sống và chế độ ăn. Nên nhớ viêm gan nhiễm mỡ cũng có thể gặp ở những người không nghiện rượu, chẳng hạn như các bệnh nhân trung niên, quá cân, và nhất là ở người đái tháo đường kiểm soát kém, sụt cân nhanh, ở các phụ nữ sử dụng estrogen.
Gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng gì đặc biệt. Có thể có các biểu hiện như: mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải, gan to và tăng nhẹ các men gan. Gan nhiễm mỡ là một trong các nguyên nhân thông thường nhất gây tăng nhẹ đơn thuần các men gan khi làm xét nghiệm máu thường quy để tầm soát bệnh.
Gan nhiễm mỡ là tình trạng tích tụ mỡ quá mức bình thường trong các tế bào gan, làm cho cân nặng của gan tăng hơn 5%. Chất mỡ này là từ các bộ phận khác của cơ thể đi đến gan, hoặc do tăng hấp thu mỡ từ ruột đưa lên gan. Cũng có thể do gan giảm khả năng chuyển hoá và loại trừ mỡ ra khỏi gan. Sự tích tụ mỡ bất thường này lâu ngày có thể ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của gan.
Gan nhiễm mỡ không chỉ là một bệnh lành tính đơn thuần (gặp trong đa số trường hợp, không làm tăng men gan, bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt) mà còn có thể gây viêm gan tiến triển dẫn đến xơ gan, sau đó là ung thư gan nếu không được chữa trị và theo dõi đúng cách (thể gan nhiễm mỡ nặng này được gọi là viêm gan thoái hoá mỡ).
Có nhiều bệnh liên quan đến tình trạng gan nhiễm mỡ làm cho chúng ta khó xác định đâu là nguyên nhân gây ra bệnh. Các yếu tố làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ bao gồm: nghiện rượu nặng, tăng cân quá mức, bệnh đái tháo đường týp hai, tăng cholesterol hoặc triglyceride trong máu, dinh dưỡng tồi hoặc mắc một số chứng bệnh (như bệnh lao, mổ nối tắt ruột để chữa béo phì), sụt cân nhanh, tiếp xúc với một số độc chất, uống một số thuốc (như các corticosteroid, thuốc ngừa thai, kháng sinh).
Những người uống quá nhiều rượu lâu năm có thể bị các tổn thương gan do rượu, trong số này có gan nhiễm mỡ. Nếu tiếp tục uống rượu, có thể dẫn đến viêm gan cấp hoặc mạn và nặng nhất là xơ gan do rượu.
Ít triệu chứng, lắm nguy cơ
Gan nhiễm mỡ có nhiều nguyên nhân và có thể xếp thành ba loại: gan nhiễm mỡ do rượu, gan nhiễm mỡ do thuốc, và gan nhiễm mỡ do lối sống và chế độ ăn. Nên nhớ viêm gan nhiễm mỡ cũng có thể gặp ở những người không nghiện rượu, chẳng hạn như các bệnh nhân trung niên, quá cân, và nhất là ở người đái tháo đường kiểm soát kém, sụt cân nhanh, ở các phụ nữ sử dụng estrogen.
Gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng gì đặc biệt. Có thể có các biểu hiện như: mệt mỏi, đau tức hạ sườn phải, gan to và tăng nhẹ các men gan. Gan nhiễm mỡ là một trong các nguyên nhân thông thường nhất gây tăng nhẹ đơn thuần các men gan khi làm xét nghiệm máu thường quy để tầm soát bệnh.
Để xác định gan nhiễm mỡ, cần dùng kim chọc lấy một mẫu mô gan (sinh thiết gan) khảo sát mô học. Các chẩn đoán hình ảnh học của gan như siêu âm hay chụp cắt lớp điện toán có thể gợi ý đến chẩn đoán gan nhiễm mỡ: hình ảnh gan to và sáng hơn bình thường dưới siêu âm hoặc giảm đậm độ trên phim chụp cắt lớp.
Giảm gánh cho gan
Để tránh bị gan nhiễm mỡ, phải thay đổi chế độ ăn uống, không uống rượu, giảm cân nếu thừa, ưu tiên dùng thức ăn thiên nhiên để giảm quá tải cho gan, tránh các chất phụ gia, tránh các thức ăn động vật (bơ, lớp mỡ cứng quanh thận…); ăn tăng các thức ăn nhiều xơ như rau, củ, quả và nhất là cây atisô, tránh các món ăn chế biến sẵn; giảm thức béo như thịt mỡ, da gà, trứng; tránh sử dụng nhiều quả hạnh nhân; giảm dùng chất bột đường; tập thể dục đều đặn.
Về điều trị, hiện chưa có phương pháp đặc hiệu. Cần nhớ rằng gan nhiễm mỡ đơn thuần không cần điều trị, nếu như không làm tăng men gan và không có biểu hiện lâm sàng. Việc điều trị chủ yếu là điều trị các nguyên nhân gây ra gan nhiễm mỡ: béo phì, nghiện rượu... Cần lưu ý phải giảm cân từ từ, không quá 0,5 - 1kg mỗi tuần lễ.
Bệnh đái tháo đường cần được kiểm soát tốt bằng hoạt động thể dục, hạn chế thức ăn từ chất bột, đường (bánh mì trắng, cơm trắng, đường đậm đặc), kết hợp dùng thuốc hay insulin để làm giảm mỡ ở gan, theo dõi chặt chẽ đường huyết.
Giảm mỡ trong máu bằng chế độ ăn hợp lý, cân đối, giàu rau củ quả đồng thời giảm lượng mỡ bão hoà trong khẩu phần ăn và thay thế bằng lượng mỡ không bão hoà (chẳng hạn như mỡ cá hay dầu ô liu); nên ăn các loại ngũ cốc toàn hạt (còn nguyên cám). Một số các biện pháp khác hiện đang được nghiên cứu để điều trị gan nhiễm mỡ: dùng các men vi sinh sống có ích cho cơ thể, một số vitamin để bảo vệ gan (vitamin E), một số chất chống ôxýt hoá, một số thuốc mới chữa đái tháo đường có tác dụng làm giảm mỡ trong gan…
Thuốc giải độc gan - chớ nên lạm dụng
Khi cơ thể bị ngứa ngáy, nổi mề đay, mụn trứng cá… nhiều người vẫn nghĩ rằng nguyên nhân của nó là do nóng gan gây ra và tự mua thuốc giải độc gan về uống.
Việc lạm dụng thuốc này có thể sẽ khiến người sử dụng đối mặt với nhiều phiền toái.
Ngộ nhận về nóng gan
Lá gan được coi như một nhà máy thải độc. Nó có vai trò quan trọng trong
chế biến và chuyển hóa những chất hấp thu từ hệ tiêu hóa thành "nhiên
liệu" nuôi dưỡng cơ thể. Cũng bởi làm việc ngày đêm và tiếp xúc với tất
cả các chất lợi, hại từ thực phẩm, gan dễ bị nóng và gây ra nhiều biểu
hiện khó chịu như ngứa ngáy, nổi mề đay, mụn nhọt…
Khi đối mặt với những biểu hiện này, để tiết chế sự bùng phát và làm
giảm triệu chứng của nó, hầu hết mọi người đều tìm đến thuốc giải độc
gan. Hành động này là hoàn toàn đúng đắn nếu như gan bạn thực sự bị
nóng. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn mọi người đang nhầm dấu hiệu của bệnh
gan với hàng loạt các bệnh khác.
Chẳng hạn với tình trạng nổi mề đay khắp người, nó có thể là nóng gan do
dùng nhiều thuốc kháng sinh, ăn các chất cay, nóng… tuy nhiên nó cũng
là biểu hiện của các nhiễm trùng đường hô hấp trên, đường tiểu, viêm
xoang mãn tính hay đơn giản là dị ứng với thức ăn hoặc loại thuốc nào
đó.
Một ví dụ khác là khi bị mụn nhọt trứng cá, mọi người thường nghĩ là do
gan nóng, song thực tế, đó có thể là viêm nang lông tuyến bã hoặc do da
bị tổn thương bởi những thói quen không tốt như sử dụng mỹ phẩm không
phù hợp, thói quen nặn mụn… Còn trường hợp mẩm ngứa, trước khi kết luận
nó là nóng gan, bạn hãy thử kiểm tra xem liệu hôm nay mình có tiếp xúc
với các chất lạ nào không, có ăn uống gì lạ miệng không?...
Trong những trường hợp bị nhầm lẫn, tất nhiên, dùng thuốc giải độc gan
đương nhiên không có tác dụng hoặc chỉ có tác dụng rất ít, không đáng
kể. Khi đó, nhiều người lại biện minh rằng: "liều lượng như thế là chưa
đủ giải nhiệt cơ thể" nên đã tự ý tăng liều dùng. Chỉ đến khi bệnh càng
ngày càng nặng thì lúc đó họ mới nghĩ đến việc khám bệnh. Tuy nhiên, lúc
ấy cũng khá muộn cho quá trình điều trị bệnh kia vì thời điểm vàng lúc
mầm bệnh mới xuất hiện đã bị bỏ qua.
Như vậy, rõ ràng, gan khỏe mạnh thì sẽ giúp cơ thể da dẻ mềm mại, không
mề đay mẩn ngứa, không khó chịu trong người… thế nhưng các nguyên nhân
khiến bạn phải đối mặt với nhiều phản ứng tiêu cực của cơ thể không hẳn
xuất phát từ lý do này. Do đó, cách tốt nhất là hãy đến bệnh viện để xin
lời khuyên của bác sỹ thay vì tự bắt bệnh, kê đơn cho mình.
Thuốc tốt cũng không thể dùng mãi
Không chỉ dùng thuốc trong những trường hợp khẩn cấp, nhiều người còn
giải độc gan hàng ngày, ngay cả khi chẳng có biểu hiện gì. Thậm chí có
người còn tuyên bố chắc nịch: "Cơm thì có bữa còn không ăn chứ giải độc
gan thì không thể không uống".
Lý giải về hành động này của mình, chị Nguyễn Thùy Minh (ở Huỳnh Thúc
Kháng, Hà Nội) khẳng định: "Toàn là Nam dược nên mình nghĩ uống nhiều
cũng chẳng sao, có phải kháng sinh đâu mà sợ. Mình hay ăn đồ cay nóng
nên nếu không dùng kèm thuốc thì chả mấy ngày mà mặt mũi lại sần sùi.
Thế nên đã gần một năm nay, ngày nào mình cũng uống thuốc. Con gái mình
cũng được mẹ vận động uống thuốc để giảm mụn trứng cá. Phòng luôn tốt
hơn tránh".
Đồng quan điểm với chị Minh, chị Vũ Thu Hà (ở Tràng Tiền, Hà Nội) chia
sẻ: "Gan mát thì càng thanh lọc cơ thể tốt hơn. Không bổ dọc thì cũng bổ
ngang. Hơn nữa, tôi đã lựa chọn sản phẩm có uy tín chứ đâu phải hàng
trôi nổi không rõ nguồn gốc. Từ ngày uống cũng thấy mụn nhọt giảm hẳn
nên tôi càng yên tâm dùng".
Khác với người tiêu dùng, BS Lê Quang Lộc (Nguyên trưởng liên khoa,
trưởng phòng khám da liễu của BV Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội) khẳng định:
"Bất cứ loại thuốc gì, dù là thuốc bổ, thuốc tốt cũng không thể lạm
dụng. Thuốc giải độc gan cũng vậy. Bạn chỉ nên sử dụng nó khi gan có vấn
đề hay đang phải sử dụng loại thuốc đào thải qua gan như kháng sinh,
giảm đau… hoặc sau khi bị ngộ độc.
Bình thường, gan của chúng ta đã phải hoạt động suốt ngày đêm để loại bỏ
chất độc từ thức ăn, nước uống trước khi tạo thành máu đi nuôi dưỡng
các bộ phận khác. Khi gan đang khỏe mạnh mà lại bắt nó uống thuốc, nghĩa
là bắt nó làm thêm nhiệm vụ. Điều này sẽ gây ra tình trạng quá tải và
đương nhiên không tốt cho sức khỏe. Bên cạnh đó, việc thường xuyên đưa
chất lạ có trong thuốc giải độc gan vào cơ thể có thể sẽ tạo ra những
phản ứng phụ như bị dị ứng, mẩn ngứa…".
Để gan khỏe
Theo BS Lộc, để gan khỏe mạnh, bạn cần duy trì thói quen ăn uống, sinh
hoạt có lợi là không ăn chất cay nóng, ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi,
hạn chế đồ chiên xào nhiều dầu mỡ. Những người có chức năng gan không
tốt không nên thức quá khuya, tốt nhất là nên đi ngủ trước 23g.
Thuốc lá, bia rượu cũng là những chất bắt gan phải làm việc quá nhiều để
loại bỏ bớt độc tố trong nó nên bạn cũng cần hạn chế sử dụng. Tức giận
sẽ làm suy giảm hệ miễn dịch, tổn thương đến gan, do đó, bạn hãy thư
giãn và học cách kìm chế cảm xúc.
Để giảm áp lực làm việc cho gan, bạn không nên tùy tiện sử dụng các loại
thuốc mà không có hướng dẫn của bác sỹ, ngay cả các loại thuốc tưởng
như rất lành tính như giải độc gan. Và cuối cùng, hãy khám sức khỏe định
kỳ để có thể phát hiện ra những mầm bệnh ngay từ khi nó mới bắt đầu
hình thành.
Cảnh giác những dấu hiệu ung thư gan
Giảm cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn, thỉnh thoảng nôn, sức khỏe giảm sút, thường xuyên mệt mỏi, phù chân, có dịch trong ổ bụng, vàng da... là những triệu chứng thường gặp của ung thư gan.
Ảnh minh họa: Health.
|
Theo BS Ang Peng Tiam, BV Mount Elizabeth, Singapore, ung thư gan là loại ung thư phổ biến, xếp thứ 5 trên thế giới, gây ra hơn 600.000 ca tử vong hằng năm. Bệnh rất thường gặp ở châu Á với tỷ lệ mắc mới không giảm trong hơn chục năm qua. Thống kê cho thấy, số bệnh nhân nam nhiều gấp 4 lần nữ.
Bác sĩ giải thích: Gan là nội tạng lớn nhất trong cơ thể, thực hiện
nhiều chức năng thiết yếu của sự sống. Ung thư gan xuất phát từ các tế
bào gan là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% tổng số ca ung thư gan
nguyên phát tại châu Á.
Các dạng ung thư nguyên phát khác ít phổ biến hơn như ung thư đường mật
và nguyên bào gan. Ung thư gan cũng có thể do di căn từ ung thư ở các cơ
quan khác trong cơ thể như phổi, đại tràng, dạ dày hoặc tụy.
Bệnh thường gặp ở những người bị tổn thương gan kéo dài như viêm gan B
hay C mạn tính, xơ gan (do gan nhiễm mỡ, uống bia rượu nhiều). Ung thư
gan nguyên phát có xu hướng ảnh hưởng đến những người tuổi trung niên
và lớn tuổi, phổ biến ở nam giới hơn phụ nữ. Những yếu tố nguy cơ
dẫn đến ung thư gan bao gồm nhiễm virus viêm gan B hoặc C mạn tính, uống
bia rượu quá nhiều, béo phì, hút thuốc lá, nhiễm độc tố aflatoxins (tìm
thấy trong các loại hạt và đậu bị lên mốc).
Các chuyên gia bệnh lý ung thư gan cảnh báo, rất khó để nhận biết các
dấu hiệu sớm của ung thư gan. Đến khi có các dấu hiệu và triệu chứng,
bệnh thường đã ở giai đoạn tiến triển. Một số triệu chứng thường gặp của
ung thư gan là giảm cân không rõ nguyên nhân, chán ăn, buồn nôn, thỉnh
thoảng nôn, sức khỏe giảm sút và thường xuyên mệt mỏi, phù chân, có dịch
trong ổ bụng, vàng da.
Hầu hết các triệu chứng này không đặc hiệu, dễ bị nhầm với các bệnh lý
khác, do đó, khi có các dấu hiệu này, tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ
chuyên khoa để khám và loại trừ các nguyên nhân khác trước khi nghĩ đến ung thư gan.
Trong quá trình thăm khám, nếu nghi ngờ bệnh nhân bị ung thư gan,
các bác sĩ sẽ hỏi thêm về tiền sử bệnh cá nhân và gia đình cùng những
yếu tố nguy cơ khác. Sau đó, nếu cần thiết sẽ thực hiện các xét nghiệm
khác để truy tìm ung thư gan sẽ được thực hiện bao gồm Alpha-fetoprotein
(AFP) trong máu, siêu âm, CT, PET-CT, MRI và sinh thiết gan.
Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi
tác, sức khỏe tổng quát, giai đoạn ung thư, vị trí khối u. Bệnh được
phát hiện ở giai đoạn càng sớm thì hiệu quả chữa trị càng cao. Trong đó,
phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc ghép gan mới đem lại cơ hội chữa khỏi
bệnh. Các phương pháp điều trị khác chỉ làm giảm bớt hoặc kiểm soát khối
u mà thôi.
BS Ang khuyên mọi người nên chú ý bảo vệ gan và phòng tránh ung thư bằng
cách: Hạn chế uống bia rượu, không hút thuốc, tiêm vắc xin ngừa viêm
gan B cho mình và gia đình, duy trì lối sống khỏe mạnh, tránh thừa cân.
Tỉ lệ sống sót sau cấy ghép gan?
Điều đó có nghĩa, cứ 100 người được ghép gan vì
mọi lý do thì có khoảng 72 người sống ít nhất 5 năm và 28 sẽ chết trong
vòng 5 năm. Nhóm nhận gan có tỉ lệ sống sót cao cũng có nhiều lý do,
trong đó có cả lý do thời gian chờ đợi gan hiến tặng ngắn. Đối với ca cấy ghép bằng gan của người sốnghiến tặng thì tỉ lệ sống sót trên 5 năm đạt tới 78%, tức 100 người thì có 78 người sống trên 5 năm và 22 người tử vong dưới
5 năm. Thực tế có trường hợp “thọ” được trên 30 năm. Tuổi thọ này phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, ngày nay nhờ tiến bộ y-dược, nhất là trong phẫu
thuật và dùng thuốc chống đào thải nên tuổi thọ bệnh nhân ngày càng được
cải thiện.
Nhiều bà bầu hốt hoảng khi biết mình mắc viêm gan B
Không ít thai phụ nhiễm viêm gan B mà không biết, chỉ đến khi có các dấu hiệu bệnh nặng lên mới đi khám và phát hiện bệnh thì thai đã được vài tháng tuổi.
Không ít thai phụ nhiễm viêm gan B mà không biết, chỉ đến khi có các dấu
hiệu bệnh nặng lên mới đi khám và phát hiện bệnh thì thai đã được vài
tháng tuổi.
BS Nguyễn Quang Tuấn, Trưởng khoa Truyền nhiễm, BV Bạch Mai cho biết,
cũng giống như những người bình thường, ở thai phụ nhiễm viêm gan virus B
bệnh thường diễn biến âm thầm và không có dấu hiệu gì đặc biệt. Rất
nhiều người thậm chí chưa bao giờ làm xét nghiệm để xác định xem mình có
nhiễm viêm gan B hay không.
Chỉ đến khi chị em có các dấu hiệu mệt mỏi, chán ăn, nước tiểu vàng,
vàng sẫm, mắt vàng, sốt nhẹ... thì mới đi khám. Lúc này mới tá hỏa tình
trạng viêm gan virus đã khá nặng và phải nhập viện điều trị.
Trong khi đó với phụ nữ viêm gan B, C nếu được phát hiện sớm sẽ được
cảnh báo thận trọng khi có thai và hẹn khám định kỳ chức năng gan, xử lý
sớm sẽ tốt hơn.
"Nếu trong giai đoạn đang chữa bệnh và uống thuốc diệt virus viêm gan B,
bệnh nhân mong muốn có thai thì nên báo trước cho bác sĩ biết để được
tư vấn vào thời điểm nào có thai là tốt nhất. Lúc đó, các bác sĩ sẽ cho
tạm dừng thuốc điều trị trong vòng 6 tháng. Thêm nữa, bác sĩ sẽ tư vấn
trong giai đoạn thai kỳ nào thì có thể tiếp tục điều trị được nhằm khống
chế thấp nồng độ virus"- BS Tuấn khuyến cáo.
Hơn nữa, thai phụ ngoài đi khám sản khoa thì việc tái khám thường xuyên,
kiểm tra chức năng gan định kỳ cũng giúp bác sĩ kịp thời phát hiện
những dấu hiệu bất thường để kịp thời điều trị, tránh tình trạng bệnh
diễn tiến nặng (suy gan không biết) sẽ nguy hiểm cho mẹ và bé.
BS Tuấn cho biết thêm, thông thường, nguy cơ lây truyền viêm gan B từ mẹ
sang con là rất lớn, nhưng nguy cơ này giảm đi khi bà mẹ được điều trị
trước thời gian mang thai (khi tải lượng virus đến ngưỡng phải điều trị)
hạ thấp tải lượng virus và điều trị tiếp trong thời gian mang thai.
Sau đó, khi sinh con em bé cần được tiêm ngay huyết thanh và vắc xin
ngừa viêm gan B ngay trong 24 giờ đầu sau sinh thì nguy cơ lây nhiễm gần
như là không còn. Ở giai đoạn cuối thai kỳ, thai phụ cũng sẽ được uống
thuốc tránh lây truyền từ mẹ sang con, nồng độ virus thấp thì khả năng
lây truyền cũng giảm đi.
Các bác sĩ khuyến cáo, người dân nên đi xét nghiệm kiểm tra để biết mình
có nhiễm viêm gian virus hay không, thông thường các xét nghiệm này chi
phí không quá cao (khoảng từ vài chục đến một trăm nghìn) để được tư
vấn điều trị.
Bởi các trường hợp nhiễm vi rút viêm gan B mạn tính các triệu chứng
thường không điển hình, rất nhiều bệnh nhân không có các triệu chứng lâm
sàng và thường phát hiện bệnh khi đã ở giai đoạn muộn như xơ gan nặng
và ung thư tế bào gan.
Tư vấn cho người dân tại phòng khám tư vấn viêm gan BV Bạch Mai.
Tuy là bệnh lý nguy hiểm với tỉ lệ dẫn đến xơ gan, ung thư gan cao nhưng
viêm gan vi rút B lại hoàn toàn có thể phòng ngừa hiệu quả bằng vắc
xin. Vì thế, với trẻ em cần tiêm ngừa vắc xin viêm gan B theo đúng lịch.
Với người lớn nếu chưa tiêm vắc xin ngừa viêm gan B thì nên tiêm ngừa
bởi tiêm vắc xin là cách phòng ngừa hiệu quả nhất ung thư gan do viêm
gan vi rút.
Cách phòng viêm gan C bạn nhất định phải nhớ
| Tránh sử dụng chung kim tiêm |
Gan là cơ quan lớn nhất và quan trọng nhất trong cơ thể, nằm dưới khung
sườn bên phải, phía trên dạ dày. Gan đảm nhiệm các chức năng: Dự trữ các
vitamin, khoáng chất, sắt và đường cho cơ thể và chuyển hóa thức ăn.
Sản xuất protein cơ bản và các yếu tố đông máu. Kiểm soát nồng độ các
nội tiết tố và các chất hóa học trong máu. Loại bỏ các chất hóa học độc
hại.
Bạn không thể sống mà không có gan. Nếu gan bị bệnh hay tổn thương, chức
năng gan sẽ bị ảnh hưởng và bạn có thể nhận thấy sức khỏe của mình bị
thay đổi. Tổn thương gan do virus viêm gan C có thể tiến triển chậm qua
nhiều năm, vì vậy việc phát hiện và điều trị là rất quan trọng.
Viêm gan do virus C được xem là "căn bệnh thầm lặng" vì nhiều người bị
nhiễm virus mà không có bất kỳ triệu chứng nào và cũng không cảm thấy có
bệnh. Virus này chỉ có thể phát hiện sau nhiều năm bị lây nhiễm, hoặc
đã ở giai đoạn muộn như xơ hóa, xơ gan, ung thư gan. Hiện, căn bệnh này
vẫn chưa có vắc xin phòng ngừa.
Virus viêm gan A và B có thể trở nên nguy hiểm hơn ở người đã nhiễm
virus viêm gan C. Việc tiêm ngừa cả 2 virus viêm gan A và B có thể giúp
phòng ngừa tình trạng nguy hiểm này.
Các chuyên gia y tế cho biết, bạn sẽ không bị nhiễm hoặc bị lây truyền
virus viêm gan C khi hắt hơi, ho, hôn, sử dụng chung dụng cụ ăn uống,
phòng tắm hay phòng vệ sinh hoặc qua một số hành vi giao tiếp hàng ngày.
Mặt khác có những biện pháp mà bạn có thể thực hiện để phòng tránh sự
lây nhiễm bằng cách:
1. Tránh sử dụng chung kim tiêm và các dụng cụ tương tự như: dụng cụ xăm mình, tiêm thuốc, châm cứu hoặc xỏ lỗ tai.
2. Tránh các hoạt động tình dục có nguy cơ cao gây chảy máu và tránh
giao hợp trong thời gian "đèn đỏ" (bao cao su sẽ giúp làm giảm nguy cơ
nhiễm).
3. Làm sạch các vết máu (mang găng tay cao su và dùng chất khử trùng).
4. Phụ nữ nên cẩn thận trong thời gian "đèn đỏ" và nên bỏ băng vệ sinh đã sử dụng vào nơi an toàn.
5. Tránh sử dụng chung dụng cụ vệ sinh cá nhân (như bàn chải răng, dao
cạo râu hoặc dụng cụ cắt móng) vì chúng có thể có các vết máu khô.
Bệnh sán lá gan dễ nhầm với ung thư gan
Trong chẩn đoán lâm sàng, đôi khi bệnh sán lá gan lớn (Fasciola hepatica) nhưng có thể nghĩ là ung thư gan. Mặt khác sán lá gan lớn gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời.
Sán lá gan đến gan như thế nào?
Sán lá gan lớn ký sinh chủ yếu ở động vật ăn cỏ như trâu, bò, cừu và cả
chó, mèo. Ốc là vật chủ ký sinh của ấu trùng sán lá gan lớn. Trứng sán
lá gan lớn từ phân người bệnh ra môi trường bên ngoài, xuống nước, qua
ốc phát triển thành ấu trùng đuôi. Trong môi trường tự nhiên, trứng sán
nở thành ấu trùng lông ký sinh trong ốc rồi phát triển thành ấu trùng
đuôi. Ấu trùng đuôi rời khỏi ốc, vào nước và bám vào các loại thực vật
sống trong nước để trở thành các nang trùng. Khi người ăn, uống phải các
nang trùng này sẽ bị bệnh. Sau khi vào dạ dày - tá tràng, các vỏ nang
trùng bị phá hủy và giải phóng ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành tá
tràng vào ổ bụng rồi di chuyển đến gan, ấu trùng đục thủng bao gan chui
vào nhu mô gan để sinh trưởng và phát triển ở đấy, chúng tiết ra các
chất độc phá hủy nhu mô gan gây áp-xe gan.
Hình ảnh gan nhiễmsán lá gan lớn(ảnh trên) và gan bị ung thư (ảnh dưới).
Sau một thời gian từ 2-3 tháng phát triển ở nhu mô gan, sán trưởng thành
có thể chui vào đường mật tiếp tục phát triển, đẻ trứng ở đấy và trong
suốt thời gian dài (khoảng 10 năm) nếu không được điều trị sẽ dẫn đến
ung thư đường mật.
Ngoài ra có một số rất ít trường hợp ấu trùng di chuyển lạc chỗ, chúng
không đến gan mà đến một số cơ quan khác (da, cơ, bao khớp, vú, thành dạ
dày, đại tràng...) và gây bệnh ở đó. Vì vậy, đã gặp những trường hợp u
đại tràng do sán lá gan nhưng chẩn đoán nhầm là ung thư đại tràng.
Triệu chứng của bệnh
Người bệnh thường mệt mỏi, có sốt (có thể sốt cao hoặc sốt nhẹ, chiếm tỷ
lệ khoảng 70%), đau nhẹ ở hạ sườn phải (tỷ lệ chiếm 70-80%), đôi khi
đau bụng âm ỉ không rõ vị trí, gan sưng to và đau. Một số trường hợp có
rối loạn tiêu hóa (chán ăn, phân không thành khuôn, tiêu chảy). Có thể
có dị ứng da (20-30 %), biểu hiện các nốt sẩn trên da, gặp chủ yếu ở
đùi, mông, lưng, cảm giác ngứa, khó chịu. Một số người bệnh có ho kéo
dài, đau tức ngực, vàng da.
Một số trường hợp, bệnh sán lá gan lớn gây áp-xe gan có thể chẩn đoán
nhầm với ung thư gan. Vì vậy, để chẩn đoán, nên lưu ý hỏi có sống ở địa
phương có nhiều người bị sán lá gan hay không?
Cần xét nghiệm bạch cầu ái toan, siêu âm gan, có thể chọc hút thăm dò và
xét nghiệm tế bào, ký sinh trùng, vi khuẩn, chụp cắt lớp vi tính (CT),
xét nghiệm bằng phản ứng ELISA cho kết quả chính xác nhất bởi vì, khi
sán xâm nhập vào nhu mô gan chúng tiết ra nhiều kháng nguyên nhất, 2
tuần sau bắt đầu xuất hiện kháng thể (IgG và IgE), nếu thực hiện phản
ứng ELISA sẽ dương tính. Cần lưu ý là 6 tháng sau khi khỏi bệnh, ELISA
vẫn còn dương tính và 12 tháng sau mới hết hẳn.
Nguyên tắc điều trị
Khi áp-xe gan không điều trị kịp thời có thể áp-xe bị vỡ vào màng phổi,
vỡ vào màng bụng, thành bụng gây viêm phúc mạc, nhiễm độc rất nguy hiểm
cho tính mạng.
Khi xác định là bệnh do sán lá gan cần điều trị càng sớm càng tốt tránh
để xảy ra các biến chứng nguy hiểm. Hiện nay đã có thuốc điều trị đặc
hiệu với loại bệnh này, tuy vậy, cần có chỉ định và theo dõi của bác sĩ
chuyên khoa, người bệnh không tự mua thuốc để điều trị. Trong trường hợp
điều trị nội khoa tiến triển chậm có thể kết hợp điều trị ngoại khoa
(chọc hút dịch, mủ áp- xe). Công việc này sẽ phải tiến hành ở bệnh viện
có đủ điều kiện.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để tránh mắc bệnh, không ăn rau, canh hoặc ốc nấu chưa chín. Không ăn
rau sống, không uống nước chưa đun sôi. Cần rửa tay sạch bằng xà phòng
trước khi ăn, đặc biệt là sau khi đi vệ sinh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét