Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

BỆNH HỆ NỘI TIẾT - TIỂU ĐƯỜNG



Làm gì để tránh biến chứng bệnh tiểu đường?

Tiểu đường là căn bệnh nguy hiểm, mang tính thời đại nhất hiện nay. Nhiều người biết mình mắc bệnh nhưng không có biện pháp điều trị và dự phòng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nước giải khát có đường làm tăng nguy cơ tiểu đường type 2

Nghiên cứu của Đại học Cambridge cho thấy cho dù bạn béo hay gầy thì uống nhiều nước giải khát có đường sẽ dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2.

Trước đây, béo phì thường liên quan đến bệnh tiểu đường type 2. Nhưng hiện nay, các nhà nghiên cứu thấy rằng ngay cả những người có cân nặng bình thường cũng có nguy cơ bị bệnh này nếu họ uống nước giải khát có đường.
Những người uống nước giải khát có đường mỗi ngày (trung bình 250ml/ngày) tăng 18% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2. Sau khi bỏ những người béo phì ra khỏi nghiên cứu, kết quả cho thấy những người có cân nặng bình thường cũng tăng 13% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2.
Nghiên cứu dựa trên dữ liệu từ 38.250 người trong 17 nghiên cứu trước đó. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí British Medical.
Gần 55% người dân Mỹ và 50% người dân Anh thường uống các nước giải khát có ga có đường. Trong 10 năm qua, nghiên cứu cho thấy, nước uống có đường có liên quan đến 1,8 triệu ca tiểu đường type 2 (bao gồm cả những người không béo phì) ở Mỹ; 79.000 ca tiểu đường type 2 ở Anh.
Simon Stevens, CEO của Dịch vụ Y tế quốc gia của Vương quốc Anh (NHS England), nói rằng tuyệt đối không có lý do nào để cho trẻ uống nước giải khát có ga.
Nghiên cứu này được hoan nghênh bởi các chuyên gia mặc dù ĐH Cambridge chỉ mới phát hiện ra mối liên hệ mang tính chất thống kê chứ không chứng minh cụ thể được nguyên nhân và hệ quả.
TS Alasdair Rankin, Giám đốc nghiên cứu bệnh tiểu đường ở Anh nói: "Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng rằng nước giải khát có đường là có hại cho sức khỏe và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường type 2… Chúng tôi khuyên mọi người nên hạn chế sử dụng các nước giải khát có đường để giảm nguy cơ mắc bệnh này."

Khôi phục bản lĩnh đàn ông cho người đái tháo đường

Nguy hiểm không kém những bệnh ăn theo như tim mạch, ung thư gan, tai biến mạch máu não… tổ ấm của nam giới bị đái tháo đường có thể tan vỡ khi gặp phải chứng dối loạn cương dương.

Theo một nghiên cứu, có tới gần 1/3 số người đái tháo đường bị giảm xuất tinh, hoặc không xuất tinh. Ở lứa tuổi 40 trở lên rất nhiều bệnh nhân nam bị rối loạn cương dương, nhưng không ít người vì tâm lý mặc cảm, xa lánh chuyện "yêu", họ thường tỏ ra cam chịu khi gặp trục trặc trong đời sống chăn gối. 
Hạnh phúc gia đình sẽ là không trọn vẹn khi hai người không biết chia sẻ, thông cảm, và thiếu"yêu" cũng là một trong những nguyên nhân gây tan vỡ hạnh phúc.
Có thể vô sinh
Theo BS. Lâm Đình Phúc (Phó Chủ tịch CLB Đái tháo đường Hà Nội, Nguyên Trưởng khoa Nội tiết-Đái tháo đường, BV Nội tiết TW): Cũng như một số biến chứng như tim mạch, thần kinh, trầm cảm, dạ dày... những người bị đái tháo đường thường gặp, đặc biệt là những người bị đái tháo đường tuýp 1 thì không ít nam giới cũng bị dối loạn cương dương.
Nguyên nhân chính là do bệnh đái tháo đường gây độc thần kinh của hệ thần kinh điều khiển cung phản xạ của việc cương dương. Tình trạng trên bảo dưới không nghe là do hệ thần kinh bị tổn thương làm rối loạn phản xạ cương.
Các dây thần kinh và động mạch có liên quan đến dương vật trong quá trình điều trị các bệnh ăn theo bệnh đái tháo đường cũng có thể bị tổn thương bởi các chấn thương do phẫu thuật. Nhiều loại thuốc thông thường (bao gồm cả thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp) có thể gây rối loạn cương.
Chứng rối loạn cương dương cũng có thể là do testosterone trong máu người bệnh giảm, vì testosterone là một nội tiết tố nam, kích thích ham muốn, tạo cung phản xạ chỉ đạo việc dương vật cương. 
Lượng đường trong máu càng giao động, bắp thịt càng thoái hóa, ham muốn càng sớm triệt tiêu trong cuộc sống lứa đôi của nạn nhân. Thiếu testosterone nam giới như mất đi vị nhạc trưởng điều tiết bản nhạc gây ra loạn nhịp.

Biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường khi mang thai

Bệnh tiểu đường trong thời kỳ mang thai có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của cả người mẹ và thai nhi.

Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai
Thai chết lưu. Nguy cơ thai chết lưu tăng lên đáng kể khi thai nhi quá lớn và nguy cơ này thậm chí còn tăng cao hơn khi các bà mẹ mắc bệnh tiểu đường.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-2
Tiền sản giật. 8% phụ nữ khi mang thai thường mắc bệnh cao huyết áp, phù (giữ nước) và mức độ cao protein trong nước tiểu, thường là sau tuần 20 của thai kỳ. Bệnh tiểu đường là một trong nhiều nguyên nhân làm tăng nguy cơ tiền sản giật.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-3
Sinh non. Glucose tăng cao trong thời kỳ mang thai ở người mẹ có thể dẫn đến việc sinh non. Trẻ sinh non sẽ có nguy cơ cao hơn với các vấn đề về hô hấp và tim, xuất huyết não, khó khăn về tiêu hóa và thị lực kém.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-4
Dị tật bẩm sinh. Những phụ nữ có lượng đường cao trong tuần thứ sáu đến tuần thứ tám sau kỳ kinh cuối, có nhiều khả năng sinh con bị dị tật bẩm sinh. Trong thời gian này, cơ thể của thai nhi đang dần hình thành, lượng đường có thể ảnh hưởng đến sự phát triển, đặc biệt sẽ ảnh hưởng đến tim, tủy sống cũng như xương, thận và hệ thống tiêu hóa.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-5
Vàng da. Khi bà bầu tiểu đường, trẻ sinh ra có thể vàng da. Vàng da xảy ra khi máu có chứa quá nhiều bilirubin, xảy ra khi các tế bào máu đỏ bị phá vỡ. Tuy nhiên, chứng vàng da thường là vô hại và sẽ mất dần sau một vài ngày.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-6
Hạ đường huyết sau khi sinh. Thai nhi nhận oxy từ máu của mẹ, đi qua nhau thai. Các chất dinh dưỡng, bao gồm đường sẽ đi qua nhau thai. Trong 6 tháng cuối của thời kỳ mang thai, nếu người mẹ bị tăng đường huyết sẽ gây ra tình trạng tăng insulin ở thai nhi. Sau khi sinh, trẻ sẽ nhận được ít lượng đường hơn so với khi còn ở trong tử cung của người mẹ. Do vậy, sự dư thừa insulin sẽ dẫn đến nguy cơ hạ đường huyết, dễ gây tổn thương đến các tế bào thần kinh não bộ, nếu không được điều trị kịp thời.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-7
Cân nặng quá mức. Thai nhi có mẹ mắc bệnh tiểu đường gặp phải các vấn đề về insulin trong tuyến tụy gây ra việc tăng cân quá mức bình thường. Điều này có thể gây ra tổn thương cho thai nhi, nếu thai nhi phát triển quá lớn có thể yêu cầu sinh mổ thay vì sinh bình thường.
Bien chung nguy hiem cua benh tieu duong khi mang thai-Hinh-8
Polyhydramnios. Polyhydramnios là tình trạng quá nhiều nước ối. Nếu người mẹ bị bệnh tiểu đường và không kiểm soát được, sẽ có nguy cơ mắc chứng polyhydramnios, đặc biệt trong quý III. Quá nhiều nước ối quanh bé có thể dẫn đến nhiều biến chứng, bao gồm cả sinh non.

Sơ cứu hạ đường huyết ở trẻ

Hạ đường huyết có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như dẫn đến bệnh đái tháo đường, gây hôn mê, chết não và có thể tử vong cho bệnh nhân.

Cách chăm sóc mắt khi bị đái tháo đường

Biến chứng về mắt là một trong những nguy hiểm mà người bệnh đái tháo đường phải đối mặt. Nếu không chăm sóc mắt và điều trị tốt, người bệnh có thể bị mù vĩnh viễn.

Cách chăm sóc mắt khi bị đái tháo đường
Tiến triển âm thầm
Biến chứng mắt do bệnh đái tháo đường có thể biểu hiện âm thầm, từ nhẹ đến nặng. Ban đầu người bệnh thường thấy mắt đỏ, chảy nước mắt, cộm, vướng, ngứa mắt... Hạn chế hoặc liệt vận động nhãn cầu: Người bệnh nhìn một thành hai (khi hai mắt cùng mở) còn gọi là triệu chứng song thị, có thể kèm theo lệch đầu, vẹo cổ. Mắt không liếc về một phía của cơ bị liệt, có thể kèm theo sụp mi. Mắt bị lác gọi là lác liệt. Đục thể thủy tinh gây nhìn mờ.
Cách chăm sóc mắt khi bị đái tháo đường
Đường máu tăng sẽ phá hủy các mạch máu ở võng mạc và gây ra bệnh võng mạc ĐTĐ, đây là hậu quả về mắt nặng nề nhất do ĐTĐ gây ra. Ở thời kỳ đầu của bệnh, những tổn thương võng mạc chưa làm giảm thị lực nhiều nên người bệnh chưa thể nhận ra.
Đó là những tổn thương mạch máu do mạch máu bị dãn ra gọi là phình vi mạch. Lâu ngày, các chất dịch trong máu sẽ dò qua thành mạch gây phù võng mạc và phù hoàng điểm làm cho người bệnh nhìn thấy ám điểm ở giữa vùng nhìn, hình ảnh bị mờ và nhòe đi, thời gian sau sẽ phát sinh các mạch máu mới, gọi là tân mạch, phù, xuất tiết và nặng hơn nữa là xuất huyết võng mạc và có thể dẫn đến xuất huyết dịch kính, bong võng mạc, dẫn đến mù lòa.
Ngoài ra, tân mạch có thể phát sinh ở phần phía trước nhãn cầu (mống mắt và góc tiền phòng) gây tăng nhãn áp làm đau nhức và mù nhanh.

Tác dụng chữa tiểu đường vượt trội của cây bằng lăng

Những nghiên cứu hiện đại cũng chứng minh trong lá và quả già của bằng lăng chứa nhiều axít corosolic có tác dụng giảm đường huyết khi nó vượt quá mức cho phép tương tự như tác dụng của insulin.

Bằng lăng chữa bệnh tiểu đường

Lá của cây bằng lăng được người dân sử dụng để hãm trà uống có tác dụng chữa bệnh tiểu đường. Những nghiên cứu hiện đại cũng chứng minh trong lá và quả già của bằng lăng có chứa nhiều axít corosolic có tác dụng làm giảm đường huyết khi nó vượt quá mức cho phép tương tự như tác dụng của insulin.
Phân tích ra cứ mỗi 20g lá và quả khô trong 100 cc nước có tác dụng tương đương với 6 - 7,7 đơn vị insulin. Tuy nhiên, tác dụng hạ đường huyết tốt nhất là ở quả già và lá già của cây bằng lăng, còn lá non và hoa cũng có tác dụng nhưng chỉ có hiệu lực bằng 70% so với lá già và quả già.
Ngoài ra, các hợp chất tanin như ellagitannins, lagertannins, lagerstroemia trong lá bằng lăng cũng được chứng minh có tác dụng làm hạ đường huyết.Cách dùng để chữa tiểu đường như sau: Hãm như trà: 50g lá già hoặc 50g quả khô hãm với 0,5 lít nước sôi. Uống ngày 4 - 6 cốc mỗi ngày để phòng và chữa bệnh tiểu đường.
Cây bằng lăng chữa bệnh gút, tiểu đườngCây bằng lăng chữa bệnh gút, tiểu đường và nhiều bệnh tật khác
Tác dụng chữa bệnh khác của cây bằng lăng
Vỏ cây và lá dùng để hãm với nước uống chữa bệnh tiêu chảy, hoa cũng dùng để chữa tiêu chảy đồng thời có tác dụng lợi tiểu rất có ích đối với người có bệnh về bàng quang. Quả bằng lăng được dùng đắp ngoài trị viêm loét miệng. Hạt có tác dụng an thần, gây ngủ. Vỏ cây còn có tác dụng như thuốc nhuận tràng tự nhiên chữa bệnh táo bón.
Chữa béo phì, thừa cân - nguyên nhân gây bệnh tiểu đường: chất có trong lá cây bằng lăng có thể ngăn cản sự dồn đọng carbonhydrate đồng thời làm giảm sự hình thành mỡ. Đó là thành phần acid corosolic ngoài việc giảm đường huyết còn được chứng minh là giúp làm giảm béo phì. Theo các nhà khoa học, những bệnh nhân tiểu đường type 2 có thể giảm 1 đến 2kg mỗi tuần nhờ sử dụng chiết xuất lá bằng lăng.
Chữa bệnh gout: các nhà khoa học đã chứng minh chất valoneic acid dilactone (VAD) dùng để chữa bệnh gout còn tốt hơn thuốc. Chất này có khả năng ức chế xanthine oxidase làm giảm acid uric trong bệnh gout. Vì vậy người bệnh có thể dùng lá cây bằng lăng cũng theo cách hãm nước uống là cách chữa bệnh rẽ tiền mà rất hiệu quả.
Bệnh đường tiết niệu: Lá bằng lăng chứa các thành phần kháng khuẩn, lợi tiểu rất tốt đối với người mắc bệnh đường tiết niệu, giúp phòng ngừa, chữa trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Sử dụng lá bằng lăng già đun sôi trong nước và uống thay trà để có tác dụng này.














Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét