Làm gì để tránh biến chứng bệnh tiểu đường?
Tiểu đường là căn bệnh nguy hiểm, mang tính thời đại nhất hiện nay. Nhiều người biết mình mắc bệnh nhưng không có biện pháp điều trị và dự phòng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm.
Nước giải khát có đường làm tăng nguy cơ tiểu đường type 2
Nghiên cứu của Đại học Cambridge cho thấy cho dù bạn béo hay gầy thì uống nhiều nước giải khát có đường sẽ dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2.
Trước đây, béo phì thường liên quan đến bệnh tiểu đường type 2.
Nhưng hiện nay, các nhà nghiên cứu thấy rằng ngay cả những người có cân
nặng bình thường cũng có nguy cơ bị bệnh này nếu họ uống nước giải khát có đường.
Những người uống nước giải khát có đường mỗi ngày (trung bình
250ml/ngày) tăng 18% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2. Sau khi bỏ
những người béo phì ra khỏi nghiên cứu, kết quả cho thấy những người có
cân nặng bình thường cũng tăng 13% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2.
Nghiên cứu dựa trên dữ liệu từ 38.250 người trong 17 nghiên cứu trước đó. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí British Medical.
Gần 55% người dân Mỹ và 50% người dân Anh thường uống các nước giải khát
có ga có đường. Trong 10 năm qua, nghiên cứu cho thấy, nước uống có
đường có liên quan đến 1,8 triệu ca tiểu đường type 2 (bao gồm cả những
người không béo phì) ở Mỹ; 79.000 ca tiểu đường type 2 ở Anh.
Simon Stevens, CEO của Dịch vụ Y tế quốc gia của Vương quốc Anh (NHS
England), nói rằng tuyệt đối không có lý do nào để cho trẻ uống nước
giải khát có ga.
Nghiên cứu này được hoan nghênh bởi các chuyên gia mặc dù ĐH Cambridge
chỉ mới phát hiện ra mối liên hệ mang tính chất thống kê chứ không chứng
minh cụ thể được nguyên nhân và hệ quả.
TS Alasdair Rankin, Giám đốc nghiên cứu bệnh tiểu đường ở Anh nói:
"Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng rằng nước giải khát có đường là
có hại cho sức khỏe và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tiểu đường type 2…
Chúng tôi khuyên mọi người nên hạn chế sử dụng các nước giải khát có
đường để giảm nguy cơ mắc bệnh này."
Khôi phục bản lĩnh đàn ông cho người đái tháo đường
Nguy hiểm không kém những bệnh ăn theo như tim mạch, ung thư gan, tai biến mạch máu não… tổ ấm của nam giới bị đái tháo đường có thể tan vỡ khi gặp phải chứng dối loạn cương dương.
Theo một nghiên cứu, có tới gần 1/3 số người đái tháo đường bị giảm xuất
tinh, hoặc không xuất tinh. Ở lứa tuổi 40 trở lên rất nhiều bệnh nhân
nam bị rối loạn cương dương, nhưng không ít người vì tâm lý mặc cảm, xa
lánh chuyện "yêu", họ thường tỏ ra cam chịu khi gặp trục trặc trong đời
sống chăn gối.
Hạnh phúc gia đình sẽ là không trọn vẹn khi hai người không biết chia
sẻ, thông cảm, và thiếu"yêu" cũng là một trong những nguyên nhân gây tan
vỡ hạnh phúc.
Có thể vô sinh
Theo BS. Lâm Đình Phúc (Phó Chủ tịch CLB Đái tháo đường Hà Nội, Nguyên
Trưởng khoa Nội tiết-Đái tháo đường, BV Nội tiết TW): Cũng như một số
biến chứng như tim mạch, thần kinh, trầm cảm, dạ dày... những người bị
đái tháo đường thường gặp, đặc biệt là những người bị đái tháo đường
tuýp 1 thì không ít nam giới cũng bị dối loạn cương dương.
Nguyên nhân chính là do bệnh đái tháo đường gây độc thần kinh của hệ
thần kinh điều khiển cung phản xạ của việc cương dương. Tình trạng trên
bảo dưới không nghe là do hệ thần kinh bị tổn thương làm rối loạn phản
xạ cương.
Các dây thần kinh và động mạch có liên quan đến dương vật trong quá
trình điều trị các bệnh ăn theo bệnh đái tháo đường cũng có thể bị tổn
thương bởi các chấn thương do phẫu thuật. Nhiều loại thuốc thông thường
(bao gồm cả thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp) có thể gây rối loạn
cương.
Chứng rối loạn cương dương cũng có thể là do testosterone trong máu
người bệnh giảm, vì testosterone là một nội tiết tố nam, kích thích ham
muốn, tạo cung phản xạ chỉ đạo việc dương vật cương.
Lượng đường trong máu càng giao động, bắp thịt càng thoái hóa, ham muốn
càng sớm triệt tiêu trong cuộc sống lứa đôi của nạn nhân. Thiếu
testosterone nam giới như mất đi vị nhạc trưởng điều tiết bản nhạc gây
ra loạn nhịp.
Biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường khi mang thai
Bệnh tiểu đường trong thời kỳ mang thai có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của cả người mẹ và thai nhi.
Thai chết lưu. Nguy cơ thai chết lưu tăng lên đáng kể khi thai nhi quá
lớn và nguy cơ này thậm chí còn tăng cao hơn khi các bà mẹ mắc bệnh tiểu
đường.
Tiền sản giật. 8% phụ nữ khi mang thai thường mắc bệnh cao huyết áp, phù
(giữ nước) và mức độ cao protein trong nước tiểu, thường là sau tuần 20
của thai kỳ. Bệnh tiểu đường là một trong nhiều nguyên nhân làm tăng
nguy cơ tiền sản giật.
Sinh non. Glucose tăng cao trong thời kỳ mang thai ở người mẹ có thể dẫn
đến việc sinh non. Trẻ sinh non sẽ có nguy cơ cao hơn với các vấn đề về
hô hấp và tim, xuất huyết não, khó khăn về tiêu hóa và thị lực kém.
Dị tật bẩm sinh. Những phụ nữ có lượng đường cao trong tuần thứ sáu đến
tuần thứ tám sau kỳ kinh cuối, có nhiều khả năng sinh con bị dị tật bẩm
sinh. Trong thời gian này, cơ thể của thai nhi đang dần hình thành,
lượng đường có thể ảnh hưởng đến sự phát triển, đặc biệt sẽ ảnh hưởng
đến tim, tủy sống cũng như xương, thận và hệ thống tiêu hóa.
Vàng da. Khi bà bầu tiểu đường, trẻ sinh ra có thể vàng da. Vàng da xảy
ra khi máu có chứa quá nhiều bilirubin, xảy ra khi các tế bào máu đỏ bị
phá vỡ. Tuy nhiên, chứng vàng da thường là vô hại và sẽ mất dần sau một
vài ngày.
Hạ đường huyết sau khi sinh. Thai nhi nhận oxy từ máu của mẹ, đi qua
nhau thai. Các chất dinh dưỡng, bao gồm đường sẽ đi qua nhau thai. Trong
6 tháng cuối của thời kỳ mang thai, nếu người mẹ bị tăng đường huyết sẽ
gây ra tình trạng tăng insulin ở thai nhi. Sau khi sinh, trẻ sẽ nhận
được ít lượng đường hơn so với khi còn ở trong tử cung của người mẹ. Do
vậy, sự dư thừa insulin sẽ dẫn đến nguy cơ hạ đường huyết, dễ gây tổn
thương đến các tế bào thần kinh não bộ, nếu không được điều trị kịp
thời.
Cân nặng quá mức. Thai nhi có mẹ mắc bệnh tiểu đường gặp phải các vấn đề
về insulin trong tuyến tụy gây ra việc tăng cân quá mức bình thường.
Điều này có thể gây ra tổn thương cho thai nhi, nếu thai nhi phát triển
quá lớn có thể yêu cầu sinh mổ thay vì sinh bình thường.
Polyhydramnios. Polyhydramnios là tình trạng quá nhiều nước ối. Nếu
người mẹ bị bệnh tiểu đường và không kiểm soát được, sẽ có nguy cơ mắc
chứng polyhydramnios, đặc biệt trong quý III. Quá nhiều nước ối quanh bé
có thể dẫn đến nhiều biến chứng, bao gồm cả sinh non.
Sơ cứu hạ đường huyết ở trẻ
Hạ đường huyết có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như dẫn đến bệnh đái tháo đường, gây hôn mê, chết não và có thể tử vong cho bệnh nhân.
Cách chăm sóc mắt khi bị đái tháo đường
Biến chứng về mắt là một trong những nguy hiểm mà người bệnh đái tháo đường phải đối mặt. Nếu không chăm sóc mắt và điều trị tốt, người bệnh có thể bị mù vĩnh viễn.
Tiến triển âm thầm
Biến chứng mắt do bệnh đái tháo đường có thể biểu hiện âm thầm, từ nhẹ
đến nặng. Ban đầu người bệnh thường thấy mắt đỏ, chảy nước mắt, cộm,
vướng, ngứa mắt... Hạn chế hoặc liệt vận động nhãn cầu: Người bệnh nhìn
một thành hai (khi hai mắt cùng mở) còn gọi là triệu chứng song thị, có
thể kèm theo lệch đầu, vẹo cổ. Mắt không liếc về một phía của cơ bị
liệt, có thể kèm theo sụp mi. Mắt bị lác gọi là lác liệt. Đục thể thủy
tinh gây nhìn mờ.
Đường máu tăng sẽ phá hủy các mạch máu ở võng mạc và gây ra bệnh võng
mạc ĐTĐ, đây là hậu quả về mắt nặng nề nhất do ĐTĐ gây ra. Ở thời kỳ đầu
của bệnh, những tổn thương võng mạc chưa làm giảm thị lực nhiều nên
người bệnh chưa thể nhận ra.
Đó là những tổn thương mạch máu do mạch máu bị dãn ra gọi là phình vi
mạch. Lâu ngày, các chất dịch trong máu sẽ dò qua thành mạch gây phù
võng mạc và phù hoàng điểm làm cho người bệnh nhìn thấy ám điểm ở giữa
vùng nhìn, hình ảnh bị mờ và nhòe đi, thời gian sau sẽ phát sinh các
mạch máu mới, gọi là tân mạch, phù, xuất tiết và nặng hơn nữa là xuất
huyết võng mạc và có thể dẫn đến xuất huyết dịch kính, bong võng mạc,
dẫn đến mù lòa.
Ngoài ra, tân mạch có thể phát sinh ở phần phía trước nhãn cầu (mống mắt
và góc tiền phòng) gây tăng nhãn áp làm đau nhức và mù nhanh.
Tác dụng chữa tiểu đường vượt trội của cây bằng lăng
Những nghiên cứu hiện đại cũng chứng minh trong lá và quả già của bằng lăng chứa nhiều axít corosolic có tác dụng giảm đường huyết khi nó vượt quá mức cho phép tương tự như tác dụng của insulin.
Bằng lăng chữa bệnh tiểu đường
Lá của cây bằng lăng được người dân sử dụng để hãm trà uống có tác dụng chữa bệnh tiểu đường. Những nghiên cứu hiện đại cũng chứng minh trong lá và quả già của bằng lăng có chứa nhiều axít corosolic có tác dụng làm giảm đường huyết khi nó vượt quá mức cho phép tương tự như tác dụng của insulin.
Cây bằng lăng chữa bệnh gút, tiểu đường và nhiều bệnh tật khác
Lá của cây bằng lăng được người dân sử dụng để hãm trà uống có tác dụng chữa bệnh tiểu đường. Những nghiên cứu hiện đại cũng chứng minh trong lá và quả già của bằng lăng có chứa nhiều axít corosolic có tác dụng làm giảm đường huyết khi nó vượt quá mức cho phép tương tự như tác dụng của insulin.
Phân tích ra cứ mỗi 20g lá và quả khô trong 100 cc nước có tác dụng
tương đương với 6 - 7,7 đơn vị insulin. Tuy nhiên, tác dụng hạ đường
huyết tốt nhất là ở quả già và lá già của cây bằng lăng, còn lá non và
hoa cũng có tác dụng nhưng chỉ có hiệu lực bằng 70% so với lá già và quả
già.
Ngoài ra, các hợp chất tanin như ellagitannins, lagertannins,
lagerstroemia trong lá bằng lăng cũng được chứng minh có tác dụng làm hạ
đường huyết.Cách dùng để chữa tiểu đường như sau: Hãm như trà: 50g lá
già hoặc 50g quả khô hãm với 0,5 lít nước sôi. Uống ngày 4 - 6 cốc mỗi
ngày để phòng và chữa bệnh tiểu đường.
Tác dụng chữa bệnh khác của cây bằng lăng
Vỏ cây và lá dùng để hãm với nước uống chữa bệnh tiêu chảy, hoa cũng
dùng để chữa tiêu chảy đồng thời có tác dụng lợi tiểu rất có ích đối với
người có bệnh về bàng quang. Quả bằng lăng được dùng đắp ngoài trị viêm
loét miệng. Hạt có tác dụng an thần, gây ngủ. Vỏ cây còn có tác dụng
như thuốc nhuận tràng tự nhiên chữa bệnh táo bón.
Chữa béo phì, thừa cân - nguyên nhân gây bệnh tiểu đường: chất có trong
lá cây bằng lăng có thể ngăn cản sự dồn đọng carbonhydrate đồng thời làm
giảm sự hình thành mỡ. Đó là thành phần acid corosolic ngoài việc giảm
đường huyết còn được chứng minh là giúp làm giảm béo phì. Theo các nhà
khoa học, những bệnh nhân tiểu đường type 2 có thể giảm 1 đến 2kg mỗi
tuần nhờ sử dụng chiết xuất lá bằng lăng.
Chữa bệnh gout: các nhà khoa học đã chứng minh chất valoneic acid
dilactone (VAD) dùng để chữa bệnh gout còn tốt hơn thuốc. Chất này có
khả năng ức chế xanthine oxidase làm giảm acid uric trong bệnh gout. Vì
vậy người bệnh có thể dùng lá cây bằng lăng cũng theo cách hãm nước uống
là cách chữa bệnh rẽ tiền mà rất hiệu quả.
Bệnh đường tiết niệu: Lá bằng lăng chứa các thành phần kháng khuẩn, lợi
tiểu rất tốt đối với người mắc bệnh đường tiết niệu, giúp phòng ngừa,
chữa trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Sử dụng lá bằng lăng già đun sôi
trong nước và uống thay trà để có tác dụng này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét